Người lưu giữ hồn quê và phục hiện thời gian tại chùa cổ Thanh Lương

(Pháp lý) – Về Tuy An (Phú Yên) hôm nay, du khách đừng nên bỏ lỡ cơ hội ghé thăm hai tự viện thiêng liêng được đông đảo tín đồ gần xa kính ngưỡng: Nhà thờ Mằng Lăng và chùa Thanh Lương. Xây dựng từ năm 1892, Mằng Lăng được xem như nhà thờ cổ nhất của Phú Yên, hiện vẫn còn lưu giữ cuốn Phép giảng tám ngày của linh mục Alexandre de Rhodes, cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam được in năm 1651 tại Roma (Ý). Trong khi Thanh Lương, ngôi chùa làng hẻo lánh ven biển xã An Chấn đã gần trăm năm tồn tại lặng lẽ, chỉ thực sự khởi sắc, lưu danh trong khoảng mười năm gần đây nhờ thiên duyên kỳ diệu.

 Chánh điện chùa Thanh Lương

Chánh điện chùa Thanh Lương

Vận hội song hành cùng kiếp nạn

Dân làng biển Mỹ Quang Nam bao đời nghèo cực. Làng nghèo nên chùa cũng cam phận khó, lại nằm tận miền bãi bờ heo hút nên chức sắc giáo phận chẳng mấy đoái hoài. Năm 2003, khi đại đức Thích Quảng Ngộ về nhận lãnh trụ trì, ngôi chùa chỉ vẻn vẹn mấy gian nhà vách ván mái lá đơn sơ trên vuông đất nhỏ.

Đối mặt với muôn vàn thử thách, lòng người ai cũng xao động phân vân. Nhưng trước tấm lòng mộ đạo thành kính của bao phật tử địa phương cùng tâm nguyện hoằng dương chánh pháp, người tăng sĩ trẻ đã quyết chí lưu thân, ôm ấp hoài bão lập thành đạo tràng vững bền nơi vùng gió cát.

Duyên sự khởi phát vào năm 2004, khi Mẹ Quan Âm giáng hạ trên sóng nước biển Đông chọn chùa Thanh Lương là nơi dừng chân phổ độ. Tiếng lành Bồ Tát hiển linh lan xa, thiện nam tín nữ thập phương nô nức tìm về dự báo những biến đổi hệ trọng.

“Thiên thời”, “nhân hòa” đã có, chỉ còn thiếu “địa lợi”. Thấu hiểu lẽ tự nhiên, sư thầy Quảng Ngộ từng bước tiến hành thương thảo với các chủ đất giáp ranh để từng bước mở rộng khuôn viên.

Đến thăm chùa, qua Tam quan vào hồ Long thủy, dạo quanh vườn tượng, ao sen… mấy ai biết đây là phần đất chùa vừa mới sáp nhập chưa lâu. Người đời thường chú tâm xây dựng đền đài, miếu mạo bởi kết quả nhãn tiền. Còn mở mang địa phận là công quả lớn lao nhưng thầm lặng nên ít ai để ý. Từ 3000m2 nên hình vóc gần 2 ha, nếu không ấp ủ hoài bão thiết tha, không có tầm viễn kiến sâu xa của người “đứng mũi chịu sào”, làm sao Thanh Lương có được diện mạo như bây giờ?

Hạnh của Đức Quan Thế Âm là nhẫn nhục, hy sinh, khoan thứ. Hiện hình giáng lâm sau ngày người tăng sĩ trẻ thọ lãnh trụ trì chưa lâu là thiên duyên kỳ ngộ, là ân sủng của Mẹ, tạo vận hội mới cho Thanh Lương. Nhưng phải chăng đó cũng là phép thử công phu Giới, Định, Tuệ với sư thầy trụ trì bằng kiếp nạn “thâu tóm” Phật tượng, việc bất thành nên kẻ xấu dụng kế hãm hại người ngay? Để tinh thần “quyến thuộc Bồ đề” của đồng đạo, phật tử gần xa càng thêm tỏa sáng. Gieo gió ắt phải gặt bão. Mây mù dẫu chưa tan nhưng vầng dương đang hé rạng phía chân trời, báo hiệu một ngày Thanh Lương sẽ được gột sạch vết nhơ phàm tục, thành chốn thanh tịnh, bình yên như chính tên gọi của mình.

Người lưu giữ hồn quê và tâm thành phục hiện dấu ấn thời gian

Du khách đến với Thanh Lương không chỉ được đắm mình trong huyền tích mầu nhiệm của Mẹ Quan Âm mà còn tìm thấy niềm an lạc trong một không gian u nhã, trầm mặc. Với đường dẫn vào chùa không qua lối Tam quan mà theo hình vòng cung từ ngoài vào trong, tạo cảm giác thoải mái ngay từ phút đầu.

Cuối đông, tiết trời se lạnh. Hồ Long thủy ảo huyền bàng bạc trong sương, kim thân Long thần uốn lượn đầy uy dũng với Đức Quan Thế Âm đại từ đại bi ngự trên đầu rồng vươn cao. Gần bên, Đức Di Lặc ngồi an nhiên với nụ cười tĩnh tại trên môi, sắc trắng tinh khôi thuần khiết lạ lùng giữa trời đông lạnh lẽo. Thả từng bước thong dong qua khu vườn tượng nhuốm màu cổ tích, rải rác những mẫu đá đủ hình dạng tự nhiên ẩn hiện trong màu xanh cây lá, mọi ưu phiền dần tan biến nhường chỗ cho cảm giác phiêu bồng, thoát tục. Ven hồ chùa, vài khóm liễu thu mình trong bụi mưa lay phay, rủ bóng lơ thơ trên mặt nước tĩnh lặng điểm xuyết vài đóa sen hồng rực, đẹp đến nao lòng. Cách đó không xa, điện thờ Quan Âm Linh Ứng ẩn hiện sau vòm cây với kiến trúc thanh thoát nhưng không kém phần tôn nghiêm. Cạnh bên là tòa giả sơn chập chùng dáng núi với thác nước lóng lánh tuôn dòng. Lại gần, lặng ngắm những cánh hoa leo phất phơ sắc đỏ thả mình trên vách đá, nghe tiếng róc rách âm ba trong lòng hang động, lòng người như giũ sạch bụi trần, mường tượng bến giác gần gũi đâu đây.

Quay mặt ra hồ chùa với những vòm si cổ thụ xum xuê, tòa Chánh điện bề thế đang hoàn thiện phần ốp san hô trên mảng tường cuối cùng. Toàn bộ phần mái, cột, mặt tường ngoài và các lam trang trí đều được ốp loại vật liệu đặc biệt này với yêu cầu kỹ thuật, thẩm mỹ cao, tạo vẻ đẹp khác lạ, riêng biệt cho công trình. Thô mộc nhưng tinh tế. Bình dị mà không kém phần sang quý. Cùng thiết kế đình làng cách điệu với mái đao, cửa gỗ ba gian… đậm hồn cốt Việt, chất liệu san hô đã góp phần tạo nên cảm giác gần gũi, thân thiện với khách viếng thăm mà vẫn giữ được nét tôn nghiêm của chốn thiền môn.

Đến nay, dấu xưa chùa cũ Thanh Lương chỉ còn lưu mấy cội si già khiến người bản địa xa quê quay về cứ ngỡ mình lạc bước. Nhưng ngẫm lại trong hình vóc mới dường như hồn chùa trăm năm vẫn tồn tại không phai. Cũng là cảm giác chung của khách vãng lai không thể nhận diện toàn cảnh kiến trúc chùa mới được kiến tạo cách đây chưa lâu. Thành quả khởi nguyên từ dụng tâm sâu xa của sư thầy trụ trì: Phục hiện dấu ấn thời gian, lưu giữ lịch sử xưa cũ của ngôi chùa trên từng công trình mới. Là sự trân trọng quá khứ, đồng thời thể hiện tư tưởng hướng nội theo minh triết phương Đông. Cho nên, khái niệm “hoành tráng” không hiện diện ở Thanh Lương. Từ các công trình kiến trúc lớn, nhỏ, các tiểu cảnh sân vườn đều có đường nét nhẹ nhàng, dung dị với nhiều gam màu lạnh tạo nên một không gian trầm mặc nhuốm màu thời gian.

Không huy hoàng điện các, Phật tượng giăng hàng, chuông trống uy nghi khiến lòng người rợn ngợp, chùa Thanh Lương như hình ảnh quê hương thu nhỏ với cây đa, mái đình, ao sen liễu rủ bên hàng dừa vi vút, ngôi chùa nhỏ sát chân núi vọng lời kinh kệ. Cho ta được trở về với bản ngã, với cội nguồn, tạm quên đi những phiền não, sóng gió cuộc đời. Đầu xuân lễ chùa cầu yên bình gia đạo, để được đắm mình trong cảnh chùa bình dị cho tâm hồn thanh tẩy là một nét đẹp văn hóa truyền thống Á Đông, niềm hạnh phúc của người phật tử và cả khách nhàn du.

NGUYỄN TOÀN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *