Kỳ 2 – Một lần thăm “làng Tiến sĩ”

(Pháp lý) – Đi thăm làng Mộ Trạch (hay còn gọi là làng Tiến sĩ) thì đụng vào đâu cũng thấy dấu vết của lịch sử, danh nhân, của những giai thoại về truyền thống khoa bảng và nếp ứng xử của một làng nền nếp, có tục đẹp thói hay…

Ngũ chi bát phái

Ông Vũ Quốc Ái cho hay, từ cụ Thần tổ Vũ Hồn họ Vũ sinh sôi rất đông con cháu và đi nhiều nơi. Riêng ở Mộ Trạch thì xác định cụ Vũ Nạp là tiên tổ sinh ra ngũ chi bát phái. Từ cụ Thủy tổ Vũ Hồn đến cụ Vũ Nạp bị khuyết phả.

Cụ Vũ Nạp có hai người con nổi danh là Vũ Nghiêu Tá và Vũ Hán Bi (còn có tên là Vũ Nông). Cả hai người đều đỗ Thái học sinh cùng khoa Giáp Thìn, đời Vua Trần Anh Tông, và đều làm quan đại thần ở triều Trần. Năm Khai Thái thứ 6 (1329) triều Trần Minh Tông, ông Vũ Nghiêu Tá được thăng chức Nhập nội hành khiển Môn hạ hữu ty lang trung. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: “Nghiêu Tá (người Hồng Châu) với em là Nông đỗ cùng một khoa hồi Thượng hoàng còn ở ngôi vua. Anh em đều nổi tiếng văn học”.

Ông Vũ Duy Tùng, hậu duệ Tiến sĩ Vũ Bạt Tụy
Ông Vũ Duy Tùng, hậu duệ Tiến sĩ Vũ Bạt Tụy

Chính vì có hai con đỗ đại khoa nên cụ Vũ Nạp theo “Đinh Từ Tự Điển” được thờ hàng đầu trong số 179 vị truyền giáo hữu công ở Văn từ Mộ Trạch. Trong “Xuân Diên Tự Điển”, cụ ở hàng thứ 7 trong tổng số 366 vị được thờ ở đình làng.

Từ sự mở đầu vẻ vang đó mà họ Vũ kế tiếp khoa bảng. Theo bài “Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ” do Lang Trung bộ Hình, Cử nhân Vũ Phương Lan soạn năm 1769 (Vũ Huy Phú dịch) thì sang thế kỷ thứ 16 và 17, sau đời thứ tư, cụ Vũ Bá Khiêm thì phả họ Vũ làng Mộ Trạch phân ra thành năm chi, tám phái.

Cụ Vũ Bá Khiêm, con trưởng cụ Vũ Như Mai, đỗ Hương tiến (cử nhân) làm quan thời Trần, chức An Hộ Phó sứ lộ Quý Hoa (nay là các tỉnh Yên Bái, Lao Cai). Ông là Thái tổ nhà thờ “Truy Viễn đường”, nhà ở ngõ Thượng Trí, nơi long đỗ (rốn rồng). Cụ bà là Vũ Thị Nương, ấm phong Lệnh nhân, sinh 5 con trai, 1 gái. Năm trai là Vũ Tuỳ, Vũ Tấn, Vũ Hữu, Vũ Tráng, Vũ Phong. Một gái là Vũ Thị Vàng lấy Lê Đạc, đời thứ 5 họ Lê làng Mộ Trạch, sinh 3 trai: Lê Đỗng đỗ Cử nhân; Lê Nại đỗ Trạng nguyên, Lê Tư đỗ Hoàng giáp. Các con trai cụ Vũ Bá Khiêm thành tổ 5 chi.

Chi thứ nhất, cụ Huyện thừa Vũ Tuỳ, con trưởng cụ Vũ Bá Khiêm, làm khởi tổ, nhà thờ “Truy Viễn Đường” truyền đến đời thứ 14, không có con trai tiếp nối.

Chi thứ hai, cụ Tổng chánh Vũ Tấn làm khởi tổ, nhà thờ “Đức Nghiệp đường” sau đổi là “Đôn Hiếu đường” và “Đôn Đức đường”. Chi thứ ba, Thượng thư Vũ Hữu làm khởi tổ, nhà thờ “Hiển Đức đường”. Chi thứ tư, cụ Thái bảo Vũ Tráng làm khởi tổ, đến đời thứ 15 thì di cư về quê mẹ ở xã Vân Đồn, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình. Chi thứ năm, cụ Đình úy Vũ Phong, làm khởi tổ, nhà thờ “Lệ Trạch đường”.

Đến đời thứ 9, ngoài ngành trưởng và vài ngành thứ, cụ Vũ Quốc Sĩ sinh 5 con trai, đều làm nên danh vọng, con cháu đông, lập mỗi cụ một nhà thờ gọi là “hậu ngũ chi”, cụ đứng đầu mỗi chi là đời thứ 10 họ Vũ Mộ Trạch, kể từ cụ Vũ Nạp. Đó là Vũ Tự Khoái, nhà thờ “Vĩnh Viễn đường”; Vũ Bạt Tụy, nhà thờ “Thế Khoa đường”; Vũ Duy Chí, nhà thờ “Quang Chấn đường”; Vũ Phương Trượng, nhà thờ “Vĩnh Bảo đường”; Vũ Cầu Hối, nhà thờ “Mạc Xá đường”, sau đổi là “Nhuận Trạch đường”.

Con cháu dòng thứ của bốn đời đầu tiên họ Vũ làng Mộ Trạch, tức là con cháu cụ Vũ Hán Bi (con thứ cụ Vũ Nạp), con cháu cụ Vũ Như Tiếp (con thứ cụ Vũ Nghiêu Tá); con cháu cụ Vũ Trọng Phục; Vũ Quý Tế (con thứ hai và con thứ ba cụ Vũ Như Mai) tụ họp thành tám phái của họ Vũ làng Mộ Trạch, mỗi phái có một nhà thờ trưởng và nhà thờ chi của phái. Do đó “Phàm là người họ Vũ làng Mộ Trạch, không thuộc vào 5 chi, đều là con cháu các vị thứ đó, tụ họp thành 8 phái”.

Vì thế, làng Mộ Trạch có rất nhiều từ đường của các chi phái, ông đại diện Ban quản lý di tích gợi ý đưa chúng tôi đi thăm “Thế Khoa đường”. Nghĩ đến ngôi nhà xưa thiêng liêng, cố trạch đầy kỷ niệm của gia đình cụ Vũ Bạt Tụy- ba đời đỗ Tiến sĩ, chúng tôi rất háo hức.

“Thế khoa đường”

Khác với hình dung về ngôi từ đường cổ kính, có cổng dựng trụ biểu, nhà gỗ kẻ truyền lợp ngói mũi hài, “Thế Khoa đường” bây giờ không còn dấu vết xưa, nhà được xây dựng kiểu hiên Tây, nền lát gạch men, như những ngôi nhà sinh hoạt bình thường khác. Tuy nhiên, bước chân vào trong nhà, trên bàn thờ treo bức hoành phi “Thế Khoa đường” mang đến cho khách sự ngưỡng mộ và trân trọng.

Ông chủ nhà Vũ Duy Tùng vui vẻ pha trà tiếp khách và trò chuyện với chúng tôi về lai lịch “Thế Khoa đường”. Ba chữ này do vua Lê ban tặng do ba đời là con trưởng kế tiếp thi đỗ Tiến sĩ hay còn gọi là “Tam đại Tiến sĩ”. Thứ nhất là cụ Vũ Bạt Tụy, năm 33 tuổi đỗ Đình nguyên, Hoàng giáp khoa Giáp Tuất (1634) đời vua Lê Thần Tông, làm quan đến Lại khoa Đô cấp sự trung, khi mất được tặng Tự Khanh, tước Huân Trạch bá.

Thế Khoa đường
Thế Khoa đường

Con cả của cụ là Vũ Duy Đoán năm 21 tuổi đỗ Giải nguyên, năm 44 tuổi đỗ Hội nguyên, Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn (1664) đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Thượng thư bộ Công, tước Bá. Đời thứ ba, cháu đích tôn của cụ, con trai cụ Vũ Duy Đoán là Vũ Duy Khuông, năm 27 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông, làm quan đến Lễ khoa Đô cấp sự trung, khi mất được tặng Tham chính, tước Nam.

Hai bên bàn thờ còn có đôi câu đối viết “Phụ tử, tổ tôn tiến sĩ đệ/ Thiên địa nhật nguyệt thế khoa đường” nghĩa là: Cha con, ông cháu đều đỗ Tiến sĩ/ Nhà thế khoa trường tồn cùng trời đất, thời gian”.

Một di vật quí hiếm nữa mà Thế Khoa đường còn giữ và bảo quản nguyên vẹn là tấm bia đá “Tiểu tông Thế Khoa đường ký” lập từ năm 1679. Bia cao 113 cm, rộng 73 cm, dầy 17 cm, khắc cả hai mặt ngót 2000 chữ. Bia ca ngợi chi thứ họ Vũ Mộ Trạch nhiều người đỗ đại khoa, làm quan lớn trong triều và hiển đạt.

Mặt sau của bia có khắc phả đồ của tiểu chi, bắt đầu từ cụ Vũ Quốc Sĩ, Hương cống khoa Quí Mão, Tả thị lang và cụ bà là Vũ Thị Thứ, được phong Chính phu nhân đến Vũ Bạt Tụy. Tiến sĩ Vũ Bạt Tụy sinh ra hai con gái và hai con trai là Tiến sĩ Vũ Duy Đoán và Hương cống Vũ Duy Thời. Tiến sĩ Vũ Duy Đoán có 7 người con ba gái, bốn trai, trong đó có một vị Tiến sĩ và hai Hương cống; Hương cống Vũ Duy Thời có hai người con trai thì một vị đỗ Hương cống. Lề bên phải của bia có bài thơ “Hỷ kế thế đăng khoa thi”- Thơ mừng kế thế đăng khoa và bên lề trái là bài “Huấn tử tôn cần học thi”- Thơ dạy con cháu chuyên cần học tập. Bài thơ sau được tạm dịch: “Học hành tạc dạ, tấm lòng son/ Đọc sách cho thông chữ cái con/ Bữa đến muối, dưa nên chớ quản/ Văn làm khoái trá mới hầu ngon/ Bảng vàng ta đó, danh bằng sấm/ Của báu vua ban, giá ngự non/ Cha dạy con, con nên dạy cháu/ Trời còn, nhà ắt thế khoa còn”.

Dân gian vẫn truyền tụng về câu chuyện ông Vũ Duy Đoán có cha là Tiến sĩ mà khi nhỏ học hành rất tối dạ. Ông đã định bỏ học đi tìm nghề khác thì một đêm ông nằm mộng thấy có vị thần cầm dao mổ bụng ông ra, nạo hết những chỗ vẩn đục, u tối. Sáng tỉnh dậy bụng vẫn còn đau, và từ đó ông học hành sáng láng, thi hương đỗ đầu giành danh vị Giải nguyên, thi Hội đỗ Tiến sĩ. Ông làm quan đến Thượng thư bộ Công và nổi tiếng là vị quan cương trực.

-Nghe nói sau này vì cương trực mà bị bãi chức, Chúa Trịnh còn sai người về đây thu lại hết cả những thứ đã ban cho ông, ông trả hết nhưng còn biển Tiến sĩ và đạo sắc về khoa bảng ông không trả đúng không bác? Tôi hỏi ông chủ nhà.

-Các cụ vẫn truyền lại rằng viên quan phụng sai cứ đòi cho hết, cụ Vũ Duy Đoán mới nói: Các đạo sắc kia Chúa ban cho tôi, tôi xin hoàn lại, còn khoa đạo và tấm biển này là do tài học của tôi mà có nên tôi không dám nộp. Viên quan kia đành chịu. Từ đó cụ ở nhà viết sách làm thơ, không màng chính sự nữa. Cụ xây dựng nên Quán Kỳ Anh của làng để các vị trí sĩ cùng hội họp, vui thú tuổi già.

Tiếc rằng vật đổi sao dời nên những di vật như cờ biển Tiến sĩ quí giá xưa đã không còn gia đình nào giữ được. Các từ đường cổ cũng đã bị xây mới, chỉ còn lại một số ít hoành phi, câu đối, bia đá. Những gì còn lại thì chúng tôi bảo quản thật tốt- ông Vũ Quốc Ái chia sẻ.

Tục đẹp, thói hay

Đi thăm Mộ Trạch hôm nay chúng tôi thấy đường làng vắng vẻ, xóm ngõ sạch sẽ, đường đều trải bê tông. Duy cái giếng khơi hình tròn, đường kính đến 50 m bên cổng chùa Diên Phúc thì nước vẫn trong xanh và đầy ắp. Tương truyền giếng này do phu nhân Thần tổ Vũ Hồn cho đào, nên niên đại cách đây đến hơn 12 thế kỷ.

– Người ta đồn rằng người Mộ Trạch thông minh, đỗ đạt nhiều do được sống bằng nguồn nước “Diên Phúc tỉnh tuyền” có long mạch tốt này, phải không bác? Tôi hỏi một người dân đứng bên cổng chùa.

– Xưa các cụ vẫn nói thế nhưng nói gì thì nói, học hành đỗ đạt đều do khổ luyện, nấu sử sôi kinh cả đấy các bác ạ. Ở làng này lưu truyền nhiều chuyện về các cụ khổ công đèn sách lắm.

– Làng tôi xưa kia trước mỗi kỳ thi, các thí sinh ngoài chuyện khảo khóa theo qui định còn phải vượt qua kỳ sát hạch của chính các cụ trong làng bằng kỳ thi thử tại quán Kỳ Anh. Các vị khoa bảng trí sĩ là những người bồi dưỡng kiến thức cho con em và làm giám khảo trong kỳ sát hạch. Chỉ những ai đủ năng lực, vượt qua kỳ thi thử đó các cụ mới cho đi thi, ai chưa đạt thì rèn luyện thêm…

Giờ tan trường ở Mộ Trạch ngày nay
Giờ tan trường ở Mộ Trạch ngày nay

Chợt nhớ một điều khoản ghi trong Hương ước cổ của Mộ Trạch, tôi hỏi ông Vũ Quốc Ái:

– Hương ước xưa có qui định người nào do mất trộm, mất cắp hay có điều gì bực tức mà đi chửi rong, làm mất phong thể của làng thì bị phạt rất nặng, những người có chức sắc còn bị truất ngôi hương ẩm, tức là không được tham gia việc làng, việc họ… Bây giờ trong làng có chuyện chửi thề tục tĩu dọc đường không bác?

– Không có. Làng nghiêm lệ từ xưa như thế nên không có ai dám vi phạm. Đó cũng là nếp ứng xử trong làng từ xưa đến nay. Bây giờ chúng tôi cũng đưa vào hương ước mới những qui định đó – ông Ái cho hay.

Hương ước làng Mộ Trạch ra đời năm 1665 sau đó được sửa chữa bổ sung tới 16 lần từ 30 điều ban đầu lên 82 điều ở bản cuối cùng. Hương ước cải lương hương chính hồi đầu thế kỷ XX của làng cũng rất phong phú, mang đặc sắc một làng khoa bảng. Ví dụ, Hương ước năm 1665 qui định tại Điều 1 rằng trong làng hễ có vị nào đỗ khoa Tiến sĩ; trúng tuyển vào Đông Các; Thăng chức Quận Công; Thăng chức Thượng thư; Đi sứ nước ngoài về; Là trí sĩ vinh qui thì các giáp làm cỗ mừng gồm 1 con lợn, một chĩnh rượu, một mâm xôi lớn, rồi mang nghi trượng cùng nhau đến chùa Vô Ngại, huyện Đường Hào để đón rước về làng. Lễ đáp của người được chúc mừng thì bao gồm 1 con trâu sống, 10 chĩnh rượu.

– Lệ làng như thế nên Trạng toán Vũ Hữu mới than phiền là có trâu đáp lễ với làng cho đúng lệ mà nhà thì chưa có trâu cày.

– Xem ra các cụ làm quan thanh bạch quá các bác ạ. Làm quan đến Thượng thư mà nhà chưa có trâu cày. Và nó cũng cho thấy gia đình quan ở quê vẫn phải cày cấy để sinh sống chứ đâu có nhờ lộc quan mà vinh thân phì gia nhỉ.

Những câu chuyện nối nhau không dứt cho đến khi chúng tôi lên xe, tạm biệt Mộ Trạch, một ngôi làng bình dị nhưng ẩn chứa trong đó trầm tích văn hóa lịch sử vô cùng phong phú, đầy tự hào và đáng trân trọng xiết bao.

Ghi  chép của Vũ Chân Thư

Thế Khoa đường

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *