Huyền thoại những giọt Tháp Chàm

(Phap ly) – Nhạc sĩ Văn Cao lần đầu tiên nhìn thấy tháp Chàm đã thốt lên “Từ trời xanh/Rơi/Vài giọt tháp Chàm/Quanh Qui Nhơn/Tôi/Như đứa trẻ yêu huyền thoại/”. Bắt đầu từ làng gốm Bàu Trúc (Ninh Thuận) nổi tiếng, chúng tôi đã có hành trình theo dấu tháp Chăm huyền thoại ấy ngược ra Nha Trang, Bình Định, đến thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Nam.

Bàu Trúc – bất ngờ sau cổng làng

Làm việc với Tòa án tỉnh Ninh Thuận xong, Chánh án Ngô Văn Thái bảo: Nhà báo vô đây, nhất định phải đến Bàu Trúc rồi. Sáng mai tôi bảo cán bộ Văn phòng đưa anh em đi. Nói đến văn hóa Chăm, bên cạnh các ngọn tháp, không ai không biết đến làng gốm Bàu Trúc và làng dệt Mỹ Nghiệp, đây được xem là làng nghề cổ nhất Đông Nam Á đó, hiện còn bảo lưu khá tốt truyền thống làm hoàn toàn bằng thủ công.

 Sản phẩm gốm Bàu Trúc

Sản phẩm gốm Bàu Trúc

Sáng hôm sau, chúng tôi từ thành phố Phan Rang – Tháp Chàm xuôi về phương Nam theo Quốc lộ 1A để đến làng gốm Bàu Trúc nổi tiếng. Hóa ra, làng nằm ở thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước. Bên đường quốc lộ, cổng làng mới xây kiểu hiện đại với dòng “Làng nghề gốm Bàu Trúc”, không có mang phong cách Chăm, chữ Chăm   khiến tôi cảm thấy hơi bất ngờ và thoáng thất vọng, vì ngỡ đã nhìn thấy nó ở đâu đó trong các làng Việt khác.

Đường làng rải nhựa, phong quang, nhà cửa khác hẳn những trang sách viết về làng Chăm và dường như những ngôi nhà Chăm điển hình như ta thấy ở  Bảo tàng Dân tộc học Hà Nội không còn nữa. Chúng tôi đã được giới thiệu nên hỏi thăm đến  xưởng gốm của nghệ nhân Kiều Lan. Thật tiếc, chị Kiều Lan đi vắng, chị gái của Kiều Lan ra tiếp chúng tôi trên thềm nhà xung quanh đầy gốm. Sản phẩm gốm rất đa dạng gồm các loại bình, chậu hoa, con thú, vũ nữ, phù điêu, tháp Chăm… nhưng đều chung một màu đất nung đậm nhạt, óng ả. Một cô gái Chăm đang làm bình hoa bằng cách lấy một cục đất đã nhuyễn đặt lên bục, cô xoay quanh, hai tay vừa chỉnh, vừa vuốt với một miếng giẻ ướt, chừng 5 phút đã xong một bình hoa… Bình sẽ được phơi chừng 4-5 giờ cho se, sau đó người thợ  dùng mảnh tre, mảnh sành chau chuốt một lần nữa. Sản phẩm được để trong bóng râm cho thật khô rồi mới nung. Lò nung chỉ là bãi đất phẳng phiu ngay trong vườn nhà. Gốm được ủ trong trấu, trong rơm rồi chất củi đốt, đốt chừng năm giờ, tùy kích thước sản phẩm.

Nhìn người thợ miệt mài, tôi thầm nghĩ: Làm thủ công nên không có cái nào giống cái nào, sản phẩm đều là độc bản. Trong thời công nghiệp hóa, sản xuất hàng loạt này mới thấy cái cá biệt quí giá biết bao. Làm gốm  mà không có bàn xoay và không có lò nung thì đúng là phương pháp của ngàn năm trước hiện diện trong cuộc sống thời đại kỹ thuật số. Thô sơ nhưng không thô kệch, với bàn tay tài hoa của những người phụ nữ nơi đây và vẻ đẹp thâm trầm, bí ẩn của văn hóa Chăm, sản phẩm của Bàu Trúc đã chinh phục được thị trường, mang đến cho thị trường một sản phẩm đặc trưng hồn cốt Chăm, vừa mềm mại vừa duyên dáng, làm hài hòa và cân bằng những công trình kiến trúc, xây dựng hiện đại.

Xem làm gốm xong, cô gái  Chăm cùng chị chủ nhà hướng dẫn chúng tôi đi thăm đền tháp. Chủ nhà đã rất chu đáo, bố trí một cô gái Chăm có học vấn, thông hiểu phong tục để hướng dẫn chúng tôi. Cô chỉ có một điều kiện là : “Anh đừng có đưa tên em lên báo”. Thật tiếc nhưng đành chấp nhận.

Trên đường đi thăm tháp, cô giải đáp cho tôi nhiều chuyện. Hóa ra, bên trong cộng đồng Chăm vẫn giữ được văn hóa, phong tục riêng, không hề bị hòa tan. Rõ nhất là họ vẫn theo chế độ mẫu hệ. Con gái cưới chồng, chứ không phải con trai cưới vợ, các con sinh ra cũng theo dòng họ mẹ. Cho đến bây giờ, chú rể vẫn về ở nhà vợ, dù người đó có thể có học vấn, có địa vị ngoài xã hội. Khác với người Việt trong sâu thẳm mong muốn vẫn mơ có được đứa con trai thì với người Chăm, sinh con trai ra sẽ thành “con người ta”.

Tháp Po Klong Garai – công trình kỳ vĩ dưới triều vua Chế Mân
Tháp Po Klong Garai – công trình kỳ vĩ dưới triều vua Chế Mân

Một ấn tượng không thể không nhận thấy, đấy là đôi mắt Chăm đen láy, thăm thẳm buồn của người dân nơi đây, không lẫn vào đâu được. Bất chợt nhìn Đạt, anh cán bộ Tòa án tỉnh Ninh Thuận đi cùng chúng tôi, tôi thấy đôi mắt cũng đen láy như thế, Đạt bảo: “Em người Kinh anh à”… Suốt bao nhiêu thế kỷ qua, sự giao hòa giữa hai dân tộc Chăm – Việt thật sâu đậm, biết đâu Đạt được hưởng một gen Chăm để có đôi mắt ấy… Ngay miền Bắc, vùng ngoại thành Hà Nội, vùng Sơn Tây cũng có nhiều làng có nguồn gốc Chăm với nhiều họ lạ, tiếng nói rất nặng, có làng trồng dừa thay vì tre như các làng Việt khác. Họ là những cư dân Chăm được đưa ra Bắc sau các cuộc chinh phạt phương Nam trong lịch sử. Văn hóa và con người Chăm cũng đã hòa vào dòng máu và văn hóa Việt tự bao đời.
Phụ nữ nắm vai trò chủ chốt nên nghề gốm Bàu Trúc do các nghệ nhân nữ lưu giữ, chỉ có con gái mới được trao truyền bí kíp. Hiện nay, 80% các hộ dân ở đây làm gốm và hiển nhiên đều do phụ nữ điều hành và trực tiếp sản xuất. Có lẽ vì thế mà gốm Bàu Trúc có nét đặc trưng khác hẳn gốm Bát Tràng, Phù Lãng, Biên Hòa… đó là tính nữ của sản phẩm. Cô gái Chăm bảo: “Mãi đến gần đây, khoảng 10 năm nay mới có chuyện đàn ông làm gốm đó anh. Và gốm Bàu Trúc trở thành thứ hàng hóa đi ra được thị trường rộng lớn lại nhờ ở đàn ông”…

Người đàn ông Chăm sống ở nhà vợ, chỉ đến khi chết họ mới được đưa trở về nhập Kut của dòng họ mẹ, trở về với cội nguồn của mình. Người Chăm Ahiér khi chết sẽ được an táng tạm một vài năm, sau đó lấy lên làm lễ hỏa táng. Lúc làm lễ hỏa táng mới thật sự là làm lễ tang. Hỏa táng xong, thầy cúng chỉ giữ lại miếng xương trán của người đã khuất rồi cắt tròn thành 9 miếng như đồng xu. Những miếng xương thiêng này sẽ được đặt trong klaong – cái hộp nhỏ bằng gốm, nếu giàu sang thì có thể bằng bạc, chôn giấu ở đâu đó ngoài rừng, (bây giờ có người đưa về nhà thờ) chờ đến dịp thuận tiện đưa về nhập Kut. Kut là nghĩa trang gia tộc của người Chăm.
Nhập Kut là một nghi lễ trọng đại, tốn kém của gia tộc, nên khi nào có khoảng 15-20 hộp klaong người ta mới tổ chức một lần. Những người chết lành, khi sống không vi phạm luật làng, luật nước, không tật nguyền, không lấy người ngoại tộc thì được an táng ở Kut chính, những người không đủ những tiêu chuẩn đó sẽ được đặt ở Kut phụ. Kut chính hay Kut phụ thì cũng chỉ là một tảng đá tự nhiên, thường là hình bầu dục, không tì vết, đơn giản vậy thôi.

Người Chăm quan niệm rằng, chỉ đến khi được nhập Kut, linh hồn họ mới thật sự được trở về thế giới của các vị thần, của tổ tiên dòng họ.

– Mẹ em mất cách đây vài năm cũng làm như vậy – cô gái nói.

Ngôi tháp thời Chê Mân

Đầu tiên chúng tôi đi thăm ngôi tháp hùng vĩ và đẹp nhất của Chăm còn lại đến nay, đó là tháp Pô Klong Garai, nằm trên đồi Trầu, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 9 cây số.  Tháp Pô Klong Garai là một tổng thể gồm ba tháp, tháp chính (cao 20,5m), tháp lửa (cao 9,31m) và tháp cổng (cao 8,56m). Trong cái nắng vàng rực và gió thổi lồng lộng, ba ngọn tháp gạch màu đỏ sẫm sừng sững in trên nền trời xanh, vừa oai nghiêm vừa cô đơn… Chọn gốc cây rợp mát, tôi nghe cô kể về sự tích vua  Pô Klong Garai, vị vua xuất thân mồ côi cha, gia đình nghèo, nhưng tài đức hơn người, được vua gả công chúa và sau đó kế vị ngai vàng vào năm 1167. Vậy là, vua Pô Klong Garai (1151-1205), tương đương với triều vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông của Đại Việt.

Có lẽ Huyền Trân Công chúa từng đến thăm viếng tháp này.
Có lẽ Huyền Trân Công chúa từng đến thăm viếng tháp này.

Tôi thích câu chuyện mang tính hiếu sinh của vị vua tài đức này, cô gái Chăm  kể: Sau khi lên ngôi 5 năm, Panduranga (Phan Rang ngày nay), quê hương của ông, bị quân Chân Lạp thường xuyên đánh phá. Pô Klong Garai phải mang quân vào Panduranga tiếp sức và dẹp loạn. Theo sử liệu Chăm thì vua Pô Klong Garai vào Panduranga xem địa thế để xây tháp kỷ niệm thuở hàn vi của mình, đến vùng Balhul thì bị tướng Hakral người Khmer  đang cai quản hạt này ngăn cản. Vua Pô Klong Garai không muốn xảy ra cuộc đổ máu vô ích nên thách tướng Khmer  thi tài xây tháp, ai xây xong trước sẽ thắng. Biết khó đánh thắng vua Pô Klong Garai bằng sức mạnh quân sự, Hakral đã chấp thuận. Kết cục, bên vua Pô Klong Garai với sự tài trí của mình đã hoàn thành trước, tướng Hakral thua cuộc đành rút quân về.

– Thật là biện pháp đình chiến tuyệt vời! Tháp này xây thời nào em?

– Tháp được xây dựng vào cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, dưới thời vua Shihavaman, người Việt gọi là Chế Mân đó anh. Ông là vị vua thứ 34 của Vương quốc Chiêm Thành.

Chế Mân, vị vua gắn liền với Huyền Trân Công chúa nhà Trần. Nghe nói thế tôi bỗng thấy ngôi tháp trở nên gần gũi và sống động lạ thường. Sử viết, để làm sính lễ, Chế Mân đã dâng châu Ô, châu Rí (Quảng Bình đến Quảng Nam ngày nay) và đón dâu về Chăm Pa.
Trước đó, với sự giúp đỡ của Đại Việt, quân dân Chiêm Thành đã đánh tan đội quân Nguyên Mông của Toa Đô xâm lược năm 1282 với 5 ngàn quân, 100 hải thuyền và 250 chiến thuyền. Đến năm 1285, Chiêm Thành lại chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai. Cả hai lần Chiêm Thành kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi đều dưới sự chỉ huy của Chế Mân.

Vậy là vua Trần Nhân Tông và vua Chế Mân có tình đồng minh tin cậy, cùng liên minh chống Nguyên Mông hung hãn.  Trong “An Nam truyện” của Nguyên sử có ghi lại rằng, Giao Chỉ thông mưu với Chiêm Thành, sai 2 vạn quân và 500 thuyền ứng viện. Vua Trần Nhân Tông còn gửi thư sang nhà Nguyên nói đại ý, Chiêm Thành nội thuộc nước chúng tôi, nay đại quân sang đánh Chiêm, chúng tôi rất xót thương… Có tình đồng minh sâu sắc như thế nên Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông mới đến thăm Chiêm Thành, ở lại đến 9 tháng và hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân.

– Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, năm sau, năm 1307, vua Chế Mân qua đời, theo tục lệ, Huyền Chân cũng sẽ phải lên giàn thiêu chết theo chồng nên nhà Trần đã cử Trần Khắc Chung vào đón. Sau khi vờ làm lễ tế ở bờ biển, Huyền Trân được cướp lên thuyền nhẹ đưa về Đại Việt, chuyến đi kéo dài mấy tháng khiến dư luận cho rằng có sự gian díu giữa Trần Khắc Chung và Huyền Trân. Càng ngày câu chuyện càng bộc lộ những bất hợp lý, em nghĩ thế không?

– Vâng, có nhiều phi lý trong câu chuyện đó. Trước hết là thời gian, 5 tháng sau khi vua băng hà thì phái đoàn Đại Việt mới vào đến nơi, sao có thể kịp dự hỏa táng. Thứ hai là người Chăm không có lệ hỏa táng vợ theo chồng. Chuyện Trần Khắc Chung lấy thuyền nhẹ cướp Công chúa và Hoàng tử Chế Đa Đa về cũng là chuyện khó tin. Em cho đó là kết quả thương thảo giữa phái đoàn Đại Việt và Chiêm Thành. Có lẽ, Huyền Trân vừa sinh con, cần được quan tâm, chăm sóc nên Chiêm thuận việc đưa nàng về… Hơn nữa, Chăm theo mẫu hệ nên mới có chuyện cho hoàng tử theo mẹ về Đại Việt như vậy.

– Đúng, Chiêm Thành là cường quốc về hải quân, làm sao có thể cướp Công chúa chạy dễ dàng như thế… Mà chuyến hải hành đâu có ngắn. Và thật tình tôi cũng không tin Đại Việt lại cư xử trái với quan hệ bang giao đang tốt đẹp giữa hai quốc gia như vậy. Có ý kiến còn cho rằng, vua Chiêm dâng tặng hai châu Ô, châu Rí là do cảm phục sự nghiệp hoằng pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông chứ không phải là sính lễ xin cưới Huyền Trân.

Câu chuyện hư hư, thực thực sẽ còn được giải mã, nhưng tòa tháp như một nhân chứng lịch sử  vẫn sừng sững đứng đó, vững vàng trước thời gian. Trong tiếng gió thổi rạt rào, tôi thầm nghĩ, có lẽ Huyền Trân công chúa đã từng đến thăm viếng tòa tháp này. Chắc hẳn Chế Mân, vị vua anh hùng của Chăm Pa cũng đã giới thiệu với Hoàng hậu Paramecvari (Tước hiệu của Huyền Trân) về công trình tuyệt mỹ, đáng tự hào của mình. Họ thật sự là “trai anh hùng sánh với gái thuyền quyên” và là biểu tượng của tình hữu nghị và hòa hiếu Việt – Chăm trong lịch sử.

Khắc khoải giọt tháp Chàm

Ba mươi năm trước, năm 1984, lần đầu tiên nhạc sĩ Văn Cao đến  Bình Định, ông đã viết nên câu thơ xuất thần: “Từ trời xanh/Rơi/Vài giọt tháp Chàm/”… Câu thơ ấy thật đúng khi chúng tôi đến thăm tháp Po Rome ở làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước.
Tháp nằm trên ngọn đồi nhỏ, hình vuông ba tầng, cao khoảng 8m, mỗi cạnh đáy  cũng rộng khoảng 8m. Tháp đang được tu bổ, xung quanh tháp là giàn giáo xây dựng. Có thể nói tháp bề thế, đồ sộ nhưng thô nặng, không thanh thoát, đẹp mắt bằng tháp Pô Klong Garai. Tháp mở cửa về hướng Đông bằng một cấu trúc cổng dạng tiền sảnh, bên trong thân tháp có tượng vua Po Rome,  bên cạnh là tượng bán thân của hoàng hậu Po Bia Sancan, người Ê Đê, còn bên ngoài tháp là tượng bà hoàng hậu Sucih. Vua Po Rome còn có thứ hậu là Bia Ut – Út không phải nhỏ nhất trong tiếng Việt mà là Uttara, nghĩa là phương Bắc. Bia Ut là Công chúa Ngọc Khoa, con gái thứ ba của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Tháp Po Rome đang được bảo tồn bằng gạch công nghiệp và xi măng
Tháp Po Rome đang được bảo tồn bằng gạch công nghiệp và xi măng

Ngay trên đồi, cách chân tháp dăm mét, chúng tôi thấy một Kut cổ, trong đó có hai hòn đá được đục chạm như bia đá của người Việt nhưng đơn giản hơn. Đó hẳn là dòng dõi nhà vua, dân thường không được đặt Kut ở đây.

Cô gái Chăm bảo: Em muốn đưa anh đi thăm tháp này vì đây là ngôi tháp cuối cùng bằng gạch của người Chăm và cũng là ngôi tháp lớn cuối cùng của vương quốc Chăm Pa, xây dựng vào thế kỷ thứ 17. Và tháp Po Rome có điểm chung với tháp Pô Klong Garai, là  tháp không chỉ  thờ thần như phần lớn các tháp Chăm khác ở phía Bắc  mà  còn kết hợp thờ vua – thần. Vua  Pô Rome, một trong những vị vua được người Chăm thần hóa. Po Rome (1627 – 1651) được người dân gọi là ông vua mục đồng, do ông xuất thân chăn trâu. Ông có công lớn trong việc dạy dân làm thủy lợi, phát triển nông nghiệp, tích trữ lương thực, nên dưới thời ông trị vì nhân dân no ấm. Người ta đánh giá rằng, mặc dầu không trang nhã và tinh tế như các tháp cổ hơn, nhưng tháp Pô Rome vẫn là một kiến trúc bằng gạch bề thế, hùng tráng của người Chăm.

Xung quanh tháp chúng tôi thấy những hạng mục kiến trúc nhỏ hơn đang long lở, đổ nát. Giữa những viên gạch Chăm có những lớp vữa dày màu trắng ngà. Có thể đó là những công trình đời sau xây chăng. Bởi lẽ điều đặc biệt trong xây dựng tháp Chăm là gạch xếp liền khít, mạch vữa rất nhỏ và qua nhiều thế kỷ, gạch vẫn không bị rêu, tháp vẫn đứng vững. Đây có thể nói là một bí ẩn mà cho đến nay dù khoa học đã phát triển lên một trình độ rất cao nhưng vẫn chưa giải mã được.

 Vũ điệu Chăm

Vũ điệu Chăm

– Ai là tác giả đích thực của những tháp Chăm kỳ diệu này?

– Ồ, anh hỏi kỳ ghê. Người Chăm chứ còn ai nữa, cô gái Chăm trả lời.

– Tôi thấy người Chăm làm gốm thô sơ đến độ không có cả bàn xoay, không có lò nung, cho đến nay vẫn vậy, thì làm sao họ có thể nung được loại gạch có độ bền đặc biệt, với các phù điêu gốm tinh xảo này – tôi chia sẻ. Và nếu người Chăm có kỹ thuật đó thì tại sao lại thất truyền đến mức không còn một dấu vết nào, dù cộng đồng Chăm cố kết mạnh và lưu giữ những giá trị truyền thống rất tốt.

– Đúng là những vấn đề khó anh ạ. Chưa ai lý giải được.

– Có một nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết tôi thấy rất thuyết phục, đó là người Ấn Độ mới là tác giả của những đền tháp đặc biệt này. Họ là những thương nhân đến buôn bán và thành đạt tại đây, để tạ ơn thần linh, họ mang thợ từ Ấn Độ sang xây dựng tháp với bí quyết, kỹ thuật đặc biệt của họ. Do đó, người Chăm không biết kỹ thuật này.

– Một giả thuyết hay, nhưng cần kiểm chứng thêm anh ạ. Xem bên Ấn Độ có những tháp như vậy không. Cũng có một giả thuyết khác là tháp Chăm do người Chăm xây, nhưng do tính chất đặc biệt của những công trình tôn giáo linh thiêng nên kĩ thuật xây dựng không được phép truyền bá rộng rãi, cộng với sự xáo trộn của lịch sử nên kĩ thuật xây dựng tháp Chăm đã thất truyền từ lâu. Vấn đề nan giải hiện nay là nếu không tìm ra được bí quyết làm gạch, xây tháp thì cực khó cho vấn đề bảo tồn. Anh nhìn đó, những bậc lên tháp đã được xây mới bằng gạch công nghiệp và mạch vữa xi măng… Hỏng hết anh à – cô nói nghe như có tiếng thở dài.

Tháp Chăm, di sản đặc biệt quí giá đang đối diện với sự hủy hoại của thời gian, của thiên nhiên miền Trung khắc nghiệt, nhưng thêm một vấn nạn nữa, do chính nhận thức của con người gây ra. Trước đây, trong tháp Chăm chỉ thắp nến, bây giờ thi nhau thắp hương, vậy là khói hương khiến lòng tháp hẹp đen kịt. Trong bảo tồn, tu bổ thì thay vì biện pháp truyền thống, nhiều nơi dùng xi măng, can thiệp thô bạo làm biến dạng di tích…

– Anh có để ý những cột đá ở cửa tháp không? Đầy chữ Chăm cổ đó anh, với dân Chăm thì đó là nơi linh thiêng, ít người được vô đó, nên bảo tồn được, bây giờ làm du lịch nên nhiều người ra vào, chữ đang mòn dần và đáng quan ngại hơn là rất ít người còn đọc được dạng chữ này anh à…

**

Chia tay hai người phụ nữ Chăm làng Bàu Trúc, chúng tôi còn tiếp tục hành trình khám phá và chiêm ngưỡng tháp Bà Po Nagar (Nha Trang), tháp Nhạn (Tuy Hòa, Phú Yên), Tháp Đôi (Quy Nhơn, Bình Định)… đặc biệt là Thánh địa Mỹ Sơn –  nơi không phải có từng “giọt tháp Chàm” mà  “như một trận mưa rào” vì đền tháp liên tiếp với dấu tích những thời kỳ huy hoàng… Càng đi chúng tôi càng thấy những câu chuyện đặt ra với tháp Po Rome, tháp Po Klong Garai cũng là vấn nạn của tất các di tích tháp Chăm hiện nay trong vấn đề bảo tồn, đặc biệt tháp  đang bị tác động bởi làn sóng du lịch.

Chuyến thăm viếng đền tháp Chăm trở thành nỗi khắc khoải trong lòng tôi mỗi khi nghĩ đến vùng đất đặc biệt ấy. Làm thế nào để bảo tồn văn hóa Chăm nói chung, bảo tồn và gìn giữ được tháp Chăm nói riêng cho muôn đời sau là vấn đề thật nan giải.

Trước thềm Xuân Ất Mùi 2015

Nguyễn Phan Khiêm

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *