Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Giản dị, thân thương và được yêu mến kỳ lạ

(Pháp lý) – Còn nhớ, những đại biểu thuộc nhiều tôn phái Phật giáo trên thế giới đến dự Phật Đản LHQ Vesak 2008 tại Hà Nội vận đủ kiểu, đủ sắc màu vàng, nâu, đen trắng rất mới lạ. Thế nhưng Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai chỉ với áo nâu và chiếc nón lá. Ông chia sẻ: Hơn bốn mươi năm trước, tôi ra đi với chiếc nón lá và chiếc áo nâu, nay trở về cũng chỉ với chiếc nón lá và áo nâu. Bây giờ tôi thấy y áo lễ phục của các tăng sĩ Việt Nam mình màu sắc rực rỡ, gấm hoa, sang trọng quá, nó gây cảm giác xa lạ với truyền thống bình dân Việt Nam. Tôi không muốn mình xa lạ với dân tộc mình…

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Hình ảnh giới tu sĩ Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài là thế đó! Một hình ảnh giản dị, thân thương và được yêu mến lạ kì.

“Tôi vắng mặt ở Việt Nam từ 1966”

Năm 7-8 tuổi, một lần cậu bé mang tên Xuân Bảo nhìn thấy hình ảnh đức Phật trên bìa 1 tờ tạp chí. Hình ảnh “Phật ngồi trên cỏ, thật bình an và mỉm cười” khiến cậu bé vô cùng xúc động. Từ đó, cậu âm thầm nuôi dưỡng ước mơ trở thành người như đức Phật. Năm 16 tuổi, cậu xin cha mẹ cho phép xuất gia và quy y, thọ giới. Cậu theo Thiền tông và trở thành nhà sư ở tuổi 23. Cậu bé ấy sau này trở thành thiền sư Thích Nhất Hạnh – Ông thầy được Phật tử khắp thế giới kính trọng và ngưỡng mộ.  Ông đã khiến tiếng “thầy” của Việt Nam trở thành ngôn ngữ toàn cầu, bởi lẽ hàng ngàn đệ tử đều gọi thầy như vậy. Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xem là “nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma, nhờ việc truyền thụ cách tiếp cận thiền đầy mới mẻ và những hoạt động không ngừng nhằm thúc đẩy hòa bình trên thế giới” đánh giá về ông của hãng thông tấn danh tiếng của AP.

 Thiền sư Thích Nhất Hạnh với nón lá và áo nâu sòng.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh với nón lá và áo nâu sòng.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh lớn lên trong bom đạn của chiến tranh và là một người theo đạo Phật khát khao hòa bình. Trong một buổi gặp mặt vào tháng 4/1965, đoàn sinh viên trường Vạn Hạnh đưa ra “lời kêu gọi vì hoà bình”, với nội dung chính là thúc giục hai miền Nam – Bắc tìm “giải pháp chấm dứt chiến tranh và đem lại cho người dân Việt Nam cuộc sống hòa bình với lòng tôn trọng lẫn nhau”. Mãi sau này, duyên nghiệp truyền bá hòa bình gắn với cuộc đời ông. Ông đã đến nhiều quốc gia vận động cho hòa bình ở Việt Nam. Năm 1966, ông lập ra dòng tu, đồng thời thành lập nhiều trung tâm thực hành và thiền viện trên khắp thế giới. Ông cư ngụ chủ yếu tại Tu viện Làng Mai, thuộc vùng Dordogne, miền Nam nước Pháp.

Ông vẫn nói: Tôi vắng mặt ở Việt Nam từ 1966.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người sống hoài niệm. Ông gây dựng Làng Mai, người ta nói Làng Mai là một Việt Nam thu nhỏ trên đất Pháp. Ông hay nhớ những câu chuyện về bản sắc dân tộc: Việt Nam nghèo nhưng cha ông ta có nếp sống nhàn nhã, thong thả, đến bữa ăn tất cả mọi người trong gia đình đều ngồi quanh mâm cơm, có thì giờ dạy bảo con cái, chuyện trò với người thân, kỵ giỗ đình đám quanh năm, cuộc sống gắn bó tâm tình thân thiết… Ngày xưa cha ông mình đi ăn giỗ, đi sớm đi muộn gì cũng có phần ăn. Ăn giỗ xong trên đường về ghé bẻ một nhánh cây dọc đường xỉa răng, không sao cả. Rồi ông có vẻ buồn về những đổi thay: Bây giờ đi ăn giỗ phải đi đúng giờ, phải tính đến chuyện kẹt xe, nếu đi trễ sẽ phải ra nhà hàng ăn lót dạ trước khi quay xe trở về.  Bây giờ thì ít khi bữa ăn có đủ mặt người thân trong gia đình, vợ chồng con cái ít có thì giờ gặp gỡ, trò chuyện với nhau, mỗi người có mỗi thời khoá biểu làm việc riêng, không phụ thuộc nhau. Kỵ giỗ không nhớ.

Đi ra ngoài để kêu gọi hòa bình

“…Năm xưa khi đi ra ngoài để kêu gọi hòa bình (tôi có viết cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in sea of the fire) bằng tiếng Anh, được dịch ra nhiều thứ tiếng). Tôi nói rằng chiến tranh Việt Nam biến thành biển lửa nhưng mà có sức sống tâm linh trong đó, thành thử trong biển lửa nó có một sự kháng cự và có một đài hoa sen mọc lên mà không bị cháy trong lửa. Cái đó là đạo Phật của Việt Nam, cái đó là yếu tố làm cho mình không bị ngập tràn bởi bạo động, bởi căm thù, bởi chiến tranh…” Đó là lời của Thiền sư Thích Nhất Hạnh khi trò truyện và chia sẻ về chuyến đi của mình.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh bị xuất huyết não

Ngày 11/11, Thanh niên đưa tin, Thiền sư người Việt nổi tiếng thế giới Thích Nhất Hạnh đang trong chế độ chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện ở Bordeaux (Pháp) sau khi bị xuất huyết não nghiêm trọng, người thân của Thiền sư ở Tây Nam Pháp thông báo.

Mới đây (ngày 26/11/2014), thông báo về tình trạng nguy kịch của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trên trang mạng xã hội Facebook đang thu hút được gần 2.600 bình luận cầu chúc sức khỏe và hơn 12.000 lượt chia sẻ.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sinh năm 1926. Ông được xem là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn ở phương Tây. Thiền sư Thích Nhất Hạnh còn là nhà văn, nhà thơ, giảng viên, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội và người vận động cho hòa bình.

Thiền sư đã xuất bản hơn 100 sách, trong đó có nhiều sách tiếng Anh về triết lý sống và triết lý Phật giáo, nổi tiếng với các bài giảng về việc sống trong giây phút hiện tại, quán chiếu hơi thở và bước đi.

Rồi ngay cả ngày về Việt Nam, ông cũng trăn trở về hòa bình. Ông đi khắp đất nước, tổ chức những khóa tu, buổi pháp thoại và gặp gỡ các tăng ni phật tử. Năm 2005, trong chuyến trở về Việt Nam đầu tiên kể từ khi đất nước thống nhất, ông đã từng có rất nhiều nỗ lực “xóa khổ đau” của một dân tộc nhiều phân ly loạn lạc; xóa bỏ định kiến để con người gần nhau hơn bằng tình yêu thương và hiểu biết. Lần trở về thứ 2, ông lập đàn “Đại trai đàn giải oan” được tổ chức ở cả ba miền Nam – Trung – Bắc, ông hoan hỉ nhận thấy: “Việt Nam ngày một cởi mở và tiến bộ hơn”. Mỗi  lần trở về và ở lại của ông trên đất Việt là mỗi lần cố gắng kéo người Việt gần nhau thêm để dân tộc thực sự hòa giải và thống nhất.

Là một người sinh ra ở Việt Nam nhưng lại trở thành thầy dạy về Phật giáo ở phương Tây, những lời dạy và phương pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh thu hút sự quan tâm của nhiều thành phần đến từ các quan điểm tôn giáo, tâm linh và chính trị khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành “chánh niệm” được điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây.

Ông chia sẻ: Trong thời gian ở nước ngoài, tôi dành ít nhất 30 năm, để chia sẻ tuệ giác và thực tập đạo Phật Việt Nam với người Tây phương bằng những khoá tu, cộng với hàng trăm cuốn sách đạo Phật Việt Nam hiện đại hoá. Các khoá tu chung cho giới trẻ và trí thức, cũng có những khóa tu dành riêng các thầy giáo, các doanh nhân, giới bảo vệ môi trường, diễn viên điện ảnh Hollywood, dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, cảnh sát, người giữ tù.v.v.

Phương Tây là đất của Tin Lành, Thiên Chúa…. Ông làm đạo Phật nảy mầm ở những vùng đất mà các đạo giáo khác như Tin lành, Thiên Chúa đã ngự trị từ lâu. Thiền sư làm được vậy là bởi: Đó là vì đạo Phật đã đưa ra được những phương pháp thực tập rất thực tế, đã hiện đại hóa. Chính trong đạo Phật, nhiều người đã tìm ra ý nghĩa của các đạo giáo khác, tìm thấy sự hòa hợp. Từ con đường ông đi, đạo Phật đi vào cuộc đời. Triết lý của Thiền sư Nhất Hạnh đã cho con người phương Tây nhận ra con đường giúp họ thoát khỏi bế tắc và sự u uẩn của đời sống tinh thần trong một xã hội hậu hiện đại. Trong những ngày đó họ thực tập những phương pháp cụ thể, trước hết lấy ra những căng thẳng trong thân – tập buông thư, lấy ra những căng thẳng trong tâm – tập nhận diện và ôm ấp những đau buồn, lo lắng, sợ hãi của mình, nhìn sâu vào để có thể nhận diện những bản chất tâm hành đó. Rồi nhìn vào người thân của mình để thấy trong họ có căng thẳng trong thân, tâm, để phát khởi lòng thương, chấp nhận họ. Lúc đó mình cởi bỏ được thái độ trách móc, vì có sự lắng dịu trong thân và tâm, học thêm được phương pháp ái ngữ và lắng nghe, hiểu được khó khăn và bức xúc, mơ ước, khổ đau của người kia, từ đó chấp nhận để giúp đỡ họ. Không nói những lời chua chát, buộc tội, lên án, thì có thể giúp người kia hiểu được, thấy được những nhận thức sai lầm của họ để thay đổi. Và triết lý này cũng cần thiết với đời sống tinh thần của người Việt Nam nói chung, và giới chuyên gia, doanh gia nói riêng trước những đe doạ của một nhịp sống công nghiệp ngày một hối hả.

Thiền sư Thích Nhất Hành từng nói chuyện ở World Bank… Nơi đây thường mời chính khách như Bill Clinton, Hillary Clinton, Tony Blair, Al Gore, Ban Ki Mon và nhiều nhà kinh tế, khoa học được giải Nobel… tới đàm đạo. Thế nhưng khi Thiền sư đến, làm cho người nghe không chán…. Ông kể những câu chuyện bằng giọng giản dị trong buổi nói chuyện với người tham dự đông nghịt. Có lẽ đến WB, một nơi chuyên xóa đói, giảm nghèo cho thế giới, nên Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã kể về thời thơ ấu của mình từng sống trong nghèo khó. Những năm 1960, chiến tranh liên miên, sống ở miền Trung, ngay cạnh vĩ tuyến 17 với nhiều bom đạn nhưng ông đã cùng Phật tử lo giúp người nghèo. Chuyện đơn giản như cái nhà vệ sinh cho nông dân cũng phải làm mẫu, giúp cho họ hiểu “công nghệ” rồi nhân rộng. Đôi khi, lớp học bắt đầu dưới gốc cây đầu làng. Trẻ em đến đông hơn, rồi bị mưa gió nên phải vào nhà tạm. Chờ đợi chính phủ chắc còn lâu nên các vị sư đi vận động đóng góp. Người góp cây tre, người góp vài gánh tranh, người góp công, người giàu hơn thì đóng tiền. Cứ như thế, việc làm từ thiện được nhân rộng. Muốn xóa đói giảm nghèo, ta hãy bắt đầu từ chính bản thân trước. Nội lực sẽ giúp cho người nghèo vượt lên. Đôi lúc kể về những ngày đã qua, Thiền sư như lặng đi, hội trường im phắc khi nhắc đến chiến tranh, bom đạn và mất mát. Ông kể về những cuộc gặp gỡ, ông nói về triết lý thiền với vài câu đơn giản nhưng trở thành nổi tiếng…. Ông cũng trả lời câu hỏi của mọi người bằng cách hóm hỉnh khiến cả hội trường cười ồ.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng từng đến Quốc hội Mỹ, Anh, Ấn Độ, UNESCO và gần đây đã sang Hàn Quốc giảng về thiền, về hòa bình và chống chiến tranh. Theo ông, các chính trị gia cần biết lắng nghe, hiểu Phật giáo thì sẽ biết hòa giải và yêu thương. Tiếng Anh của Thiền sư trôi chảy, cùng ngôn ngữ cơ thể, nội dung chuyển tải rất rõ ràng, chẳng cần một chút giấy tờ…. Mọi thứ cứ như tuôn như suối từ trong tim và khối óc của người nói. Thiền sư chia sẻ nhiều giờ mà người nghe vẫn muốn cuộc nói chuyện tiếp tục, đông người xếp hàng đợi hỏi nhưng thời gian có hạn nên đành thôi.

Những điều lắng lại …

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người khởi xướng Phật giáo dấn thân – có nghĩa là áp dụng những tuệ giác mình đạt được từ những lời dạy của đức Phật và từ thiền quán để làm vơi bớt những khổ đau trong xã hội, trong môi sinh và trong chính trường. Trang thông tin của ông từ Làng Mai những ngày qua truyền tin ông bị ốm thế nhưng những điều ông truyền đạt trong những khóa tu, với ý nghĩ, ý nghĩa còn lắng ở hiện tại…

“Mỗi người hãy  lấy ra những căng thẳng trong tâm, nhận diện căng thẳng, sự sợ hãi… từ đó có sự lắng dịu trong thân và tâm… hiểu thấu được những khó khăn, bức xúc…Khi có tình thương và sự hiểu biết. Khi có hiểu biết lớn, thương yêu lớn thì có hạnh phúc lớn. Hiểu sâu thì thương nhiều”… Nhờ vậy con người mới có sự an lạc trong thân và trong tâm, đó cũng là một ý nghĩa to lớn mà đạo Phật muốn đem đến mọi người. Sự an lạc đó càng có ý nghĩa hơn trong đời sống hiện đại đầy hối hả của ngày hôm nay, khi con người  đứng trước sự lựa chọn: Sống ở hiện tại hay sống vì tương lai hoặc cho quá khứ.

“Có khả năng sống trong giây phút hiện tại thì đó là nghệ thuật sống. Biết sống an lạc trong hiện tại thì tự tại đi tới tương lai. Quá khứ đi qua, tương lai chưa tới. Giây phút hiện tại là thực sự sống. Do đó cần an trú trong giây phút hiện tại… Hiện tại không có hạnh phúc thì làm sao có hạnh phúc trong tương lai” hay “Trong đời sống, đạo Phật là thực tập để sống vô ngã. Người xuất gia nắm được tuệ giác vô ngã thì không thấy cha và con là hai người riêng biệt. Trong con có cha, con là sự tiếp nối của cha. Vị sư tăng mà nắm được điều đó thì không cho mình là nhất, nếu không thì tội nghiệp cho họ. Ý chí muốn tu học là một chuyện, thành công là chuyện khác”

Nói về quá khứ, Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng truyền đạt: “Có những người rất khó để quên đi quá khứ. Họ không bao giờ tha thứ cho những người đã khiến họ mất đi những địa vị đã có. Không có hiện tại thế nên họ không có tương lai. Nếu cứ ôm khư khư hận thù, giam hãm quá khứ thì rất tội nghiệp. Một ngày tỉnh thức nào họ thấy được điều đó thì họ được giác ngộ”.

Trước những tham vọng thành công vội vã, Thiền sư Thích Nhất Hạnh nhắn nhủ: Một nhà chính trị thì luôn muốn mình đem lại thành công cho đất nước. Một doanh thương cũng muốn thành công cho cả doanh nghiệp chứ không phải chỉ cho mình. Nếu hình hài không có an thì không thành công được. Thực tập đem lại sự yên ổn trong thân, trong tâm sẽ giúp họ thành công, dù là nhà chính trị hay doanh nhân, không có gì chống đối hết. Khi sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì họ thành công hơn trong lĩnh vực chính trị, kinh doanh của họ. Những niềm vui của họ có thể rất lớn khi họ thực hiện những điều họ mơ ước. Sự thành công của mình không hẳn trả giá bằng sự thất bại của người khác. Tại sao người kia phải thất bại thì mình mới thành công? Đó là câu hỏi quan trọng? Làm thế nào để tôi thành công và anh cũng thành công, thì hạnh phúc của ta sẽ lớn hơn, vì không ai đau khổ vì sự thành công của chúng ta hết. Hạnh phúc của chúng ta đâu phải chỉ là quyền lực, danh vọng, tiền bạc. Hạnh phúc là khi chúng ta có tình thương và sự hiểu biết.

Và có những điều Thiền sư truyền đạt thông qua những câu chuyện giản dị thế này: Ở Việt Nam, người chồng gọi vợ mình là “nhà tôi” và người vợ cũng gọi chồng mình là “nhà” của cô ấy. “Nhà tôi” có nghĩa là căn nhà của tôi. Khi có người hỏi: “Vợ anh đâu rồi?” người kia sẽ trả lời: “Nhà tôi đang ra bưu điện.” Cũng đã có một vị khách hỏi người vợ: “Ai trang trí nhà bạn mà đẹp quá vậy?” Cô vợ trả lời: “Nhà tôi sửa soạn cái nhà tôi”, điều đó cũng có nghĩa là “chồng tôi đã làm cho ngôi nhà của chúng tôi trở nên đẹp như vậy đó”. Hay khi người chồng gọi vợ: “Nhà mình ơi!” (nhà của tôi), cô vợ sẽ đáp là: “Em đây! Nhà mình ơi.” Khi quý vị có một mối liên hệ như vậy, nghĩa là người kia là ngôi nhà của quý vị, thì quý vị cũng hãy là một ngôi nhà đích thực cho người đó. Tuy nhiên, trước nhất, quý vị phải là ngôi nhà đích thực cho chính mình thì mới có thể là ngôi nhà cho người thương của quý vị. Và chánh niệm là sự thực tập để có thể là một ngôi nhà đích thực cho chính ta và cho những người ta thương. Ta phải là ngôi nhà đích thực cho chính mình thì mới có thể là ngôi nhà cho người mà ta thương mến. Vì vậy sự thực tập quay về nhà là điều mà chúng ta làm suốt mỗi ngày, bởi vì trong chúng ta, ai cũng chỉ thấy thoải mái khi được ở trong nhà của mình. Ngôi nhà của chúng ta đang có đó và chúng ta có thể quay về nhà trong mỗi phút mỗi giây. Ngôi nhà của chúng ta phải là một nơi an toàn, thân thương và ấm cúng…

Mai Mai

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *