Ký ức về vị Phó Chủ tịch Quốc hội từng kiêm nhiệm trọng trách Chủ tịch Hội luật gia VN

(Pháp lý) – Chưa một lần được gặp ông, tất cả những gì tôi biết về ông chỉ thông qua các Luật gia lão thành, qua sách báo và các phương tiện truyền thông . Tôi còn được biết, người chị cả trong gia đình ông chính là bà Phùng Lê Chân nguyên thẩm phán Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội, chủ tọa phiên tòa xét xử ông Tạ Đình Đề những năm 1970 và tuyên ông Đề vô tội, bất chấp sức ép từ trên xuống. Khí chất và bản lĩnh của vị chủ tọa phiên tòa Phùng Lê Chân được giới luật gia VN đánh giá rất cao.

Ngưỡng mộ, tôn kính ông, từ lâu tôi đã ấp ủ được “gặp” ông một lần, nhưng điều đó là không thể. Mới đây, thật tình cờ, tôi có dịp gặp anh Phùng Hữu Hào – người con thứ tư và cũng là người con trai duy nhất của ông tại căn nhà nơi mà trước đây ông đã từng gắn bó. Đó là một ngôi nhà tập thể nằm yên bình trong một con ngõ nhỏ trên đường Phương Mai. Khi tôi tâm sự với anh Hào về mong muốn của mình, từ sâu thẳm bên trong ký ức của anh Hào, hình ảnh của người cha kính yêu, vị Phó Chủ tịch Quốc hội năm nào lại trở về nguyên vẹn và bình dị như xưa.

Ký ức về người cha nho nhã, liêm khiết, chính trực

Ông Phùng Văn Tửu sinh ngày 22 tháng 7 năm 1923 tại xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc thành phố Hà Nội). Thân sinh của ông là cụ Phùng Văn Trinh và bà Lê Thị Cầu đều ở Bát Tràng. Cụ Phùng Văn Trinh là một nhà giáo yêu nước, mặc dù sinh ra và lớn lên ở Bát Tràng nhưng trong suốt quãng đời công tác của mình cụ lại làm nghề gõ đầu trẻ ở Nam Sách – Hải Dương. Kính trọng những đóng góp  trong việc truyền bá chữ quốc ngữ và dạy dỗ cho không ít thế hệ con em nhân dân xã Đồng Lạc, sau này, người ta đã lấy tên cụ đặt cho tên trường Tiểu học ở xã Đồng Lạc, Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Cố Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học như vậy cho nên không chỉ ông mà tất cả 9 anh em trong gia đình đều được cụ Phùng Văn Trinh cho ăn học đến nơi đến chốn. Cái nghề gõ đầu trẻ của người cha và nghề buôn bán hàng xén ở quê nhà của người mẹ tần tảo dẫu không có gì là dư dả nhưng ở cái buổi “gạo châu củi quế”, trong khi những người xung quanh trầy trật kiếm ăn từng bữa thì so với những đứa trẻ cùng thời ông vẫn còn may mắn hơn. Tuổi thơ của ông gắn liền với sách vở, trường lớp. Ông và các anh em của mình lần lượt theo cha về Nam Sách để học.

Ông sinh ra và lớn lên giữa thời loạn lạc, khi mà nhân dân hàng ngày phải chịu cảnh “xiềng xích” “một cổ hai tròng”. Tinh thần yêu nước từ người cha đã có những ảnh hưởng nhất định đến nhân sinh quan của ông. Sự thống khổ của đời sống nhân dân, sự mục nát của chế độ phong kiến nửa mùa đã góp phần hình thành quyết tâm trong ông về một cuộc sống tự do, ấm no cho đồng bào. Đang hoc luật thì cách mạng tháng Tám nổ ra. Ông tham gia cách mạng và cũng kể từ ngày đó lý tưởng của người chiến sĩ cộng sản cuốn ông theo những năm tháng thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp từ 1946 đến 1954, ông hoạt động chủ yếu khu vực Phú Thọ và vùng ATK Thái Nguyên. Do có nền tảng kiến thức Nho học và trình độ tú tài, ông được bổ nhiệm làm Thẩm phán huyện Hạc Trì (nay thuộc thành phố Việt Trì), tỉnh Phú Thọ, sau làm Bí thư chi bộ cơ quan rồi làm Huyện ủy viên, Phó bí thư Huyện ủy Hạc Trì. Thời gian ông hoạt động ở ATK, vợ ông là bà Phạm Thị Ưng khi đó đã có một mặt con với ông tìm đến tận nơi để thăm nom rồi ở lại mở gánh hàng buôn bán để tiện chăm sóc ông. Nhưng đời người chiến sĩ cộng sản giữa buổi loạn li nay đây mai đó. Mang tiếng là được gần ông song chả mấy khi hai ông bà được gặp nhau, thậm chí là ngay cả khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Điều này lí giải vì sao phải đến những năm 60 khi cả hai người đã cùng công tác ở Hà Nội thì người con thứ hai của ông bà mới ra đời, khi đó người con cả của ông là bà Phùng Thị Yểng cũng đã tròn 15 tuổi.

Có lẽ cũng là một may mắn với ông khi ông lấy được bà. Công việc của ông ngập đầu, đều đặn ngày hai buổi sáng đi tối về bất kể nắng mưa. Bà thì làm công nhân của nhà máy dược phẩm. Ấy vậy mà người phụ nữ xứ Kinh Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó ấy vẫn một mình lo toan cửa nhà chăm sóc con cái học hành nhưng không một lần kêu ca, trách móc.

Với anh Hào và những người chị của mình, ông là một người khá hiền lành và luôn đề cao tình cảm gia đình. Giữ một chức vụ lớn trong bộ máy nhà nước nhưng chưa bao giờ ông có ý nghĩ tơ hào một đồng của công hay mưu cầu lợi ích cho bản thân. Lúc mới về Hà Nội công tác, cuộc sống khó khăn, không có nhà ở, gia đình ông phải ở nhờ nhà một người họ hàng. Và cho đến khi ngôi nhà ổn định được tại căn hộ ở khu tập thể Phương Liên thì gia đình ông cũng đã nhiều lần “chuyển cư” theo sự phân công, điều động của đơn vị nơi ông công tác. Những năm bao cấp, vụ thứ trưởng Bộ tư pháp vẫn ăn bo bo, hạt mỳ. Cuộc sống ở những căn hộ tập thể không thiếu những lúc khó khăn, nhiều khi thiếu nước, ngày đi làm đêm về vị thứ trưởng ấy lại xắn quần chờ bơm nước để xách về cho cả nhà. Khi ông đã là Phó Chủ tịch Quốc hội, có người họ hàng khuyên ông nên xin cấp đất riêng để sau này có đất cho con cháu ở nhưng ông gạt đi, ông bảo mình người nhà nước, nhà nước phân đâu ở đấy, ông không thể làm thế được. Tâm sự với tôi bác Đặng Đình Lâm – nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông và cũng là người con rể đầu của ông xúc động: Công việc của cụ bề bộn là thế nhưng suốt mấy chục năm tiếp xúc với cụ, chưa lần nào tôi thấy cụ nặng lời hay to tiếng với ai. Cái nét hồn hậu, nho nhã, khoan thai suốt mấy chục năm ấy vẫn vẹn nguyên cho đến tận lúc mất. Sự liêm khiết, chính trực chính là điều để những người con như chúng tôi học tập.

Bảy mươi lăm mùa xuân, chưa một lần ngơi nghỉ

Sau khi tham gia khởi nghĩa tháng Tám và gia nhập Đảng cộng sản tháng 12/1946, ông thoát ly gia đình hoạt động ở Phú  Thọ trong vai trò Thẩm phán huyện Hạc Trì – Phú Thọ. Năm 1948, ông tham gia lớp luật do Luật sư Phan Anh  (người về sau trở Chủ tịch đầu tiên của Hội Luật gia Việt Nam) bấy giờ đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Kinh tế, thành lập nhằm bổ sung nguồn cán bộ có trình độ cho bộ máy chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Sau khi học xong, ông được bổ nhiệm làm Chánh án Tòa án Nhân dân huyện Hạc Trì, sau là Tòa án Nhân dân liên huyện Hạc Trì – Lâm Thao (Phú Thọ). Ông cũng kiêm chức Phó bí thư Huyện ủy Lâm Thao (Phú Thọ), Ủy viên chấp hành Công chức Cứu Quốc tỉnh Phú Thọ.

GS. Phùng Văn Tửu (em) – em trai của cố Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu (anh)

Với những phấn đấu và hoạt động không ngừng nghỉ trong lĩnh vực tư pháp, năm 1950 ông tiếp tục được tín nhiệm  điều về Bộ Tư pháp, làm Phó trưởng phòng, sau đó làm Trưởng phòng nghiệp vụ của Bộ, Bí thư chi bộ cơ quan Bộ Tư pháp và bổ nhiệm làm Phó chánh văn phòng Bộ Tư pháp vào cuối năm 1954. Trong khoảng thời gian từ 1960 – 1980, ông làm Phó hiệu trưởng phụ trách (từ 1979 làm Hiệu trưởng) Trường cán bộ Tư pháp (nay là Đại học Luật Hà Nội) đồng thời làm Bí thư Đảng ủy nhà trường. Nhớ về ông, luật gia Ngô Văn Thâu – người lúc bấy giờ làm trưởng một bộ môn của trường cán bộ Tư pháp tâm sự: Ai tiếp xúc với anh Tửu lần đầu cũng cảm thấy anh là một người hết sức gần gũi, nhẹ nhàng. Lúc bấy giờ chúng tôi hay gọi ông là ông Tửu “rát” (nhát). Tất nhiên chúng tôi gọi vậy là để đùa anh bởi công việc nhà trường nhiều lại hết sức quan trọng, nhiều khi anh em làm sai, làm không đúng, với lỗi đó ông hoàn toàn có thể kỉ luật nhưng trái lại anh lại hết sức nhẹ nhàng nhắc nhở một cách chân thành. Có lẽ ông cũng thông cảm với đội ngũ cán bộ tư pháp lúc bấy giờ còn nhiều hạn chế về kiến thức nghiệp vụ và có lẽ cũng vì thế mà anh em cơ quan hay bất kì ai đã từng làm việc với ông đều cảm thấy thoải mái và hết sức quý mến ông.

Chế độ diệt chủng PonPot Ieng Xary ở Campuchia sụp đổ, nhà nước Campuchia mới được hình thành. Cuối năm 1980 ông lại nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn chuyên gia tư pháp sang Campuchia giúp nước bạn xây dựng và đào tạo hệ thống cán bộ tư pháp. Tháng 5 năm 1981, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VII (đại biểu tỉnh Vĩnh Phú).Từ tháng 9 năm 1981, ông làm ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đồng thời là ủy viên BCH Hội Luật gia Việt Nam.

Cho đến tháng 6 năm 1987, ông tiếp tục được bầu làm đại biểu Quốc khóa VIII và được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội, kiêm Bí thư Đảng ủy cơ quan Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Cũng trong năm này, ông giữ chức vụ Tổng thư ký Hội Luật gia Việt Nam. Từ tháng 9 năm 1992, ông là đại biểu Quốc hội khóa IX và được bầu vào cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội, đồng thời giữ chức Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam, Bí thư Đảng Đoàn của Hội và tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa III. Có một thời gian cùng làm việc với ông, ông Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội nhận xét: sức làm việc của cụ Phùng Văn Tửu quả thật đáng nể. Nhưng tôi kính trọng ông không chỉ bởi sự tận tâm, nhiệt huyết với công việc, sự chân thành, tận tình trong các mối quan hệ mà còn ở sự liêm khiết chính trực của một người nắm giữ một trong những chức vụ đặc biệt quan trọng của nhà nước. Chỉ cần tiếp xúc với ông, nhìn cách ông làm việc, đến thăm ngôi nhà của ông là đủ biết con người ông đáng kính trọng thế nào.

Từng nắm giữ nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt ở nhiều cơ quan Đảng ủy khác nhau nhưng người chiến sĩ cách mạng ấy sống rất giản dị khiêm nhường. Tuổi già, sức yếu bệnh tật không ngăn được niềm đam mê, trách nhiệm và sự tận tụy trong công việc của ông. Năm 1995, khi đó ông đã bước sang tuổi 73, phát hiện mầm bệnh ác tính trong người nhưng vì công việc còn dở dang, ông gác lại chuyện chữa trị để hoàn thành nốt những nhiệm vụ mà Đảng giao phó. Năm 1997 chỉ sau khi điều khiển xong phiên họp cuối cùng của kì họp Quốc hội vài ngày, ông đã nhập viện và mất sau đó không lâu. Có thể thấy cuộc đời của vị Phó Chủ tịch Quốc hội đã dành trọn cho dân cho nước, sẽ là không quá khi nói về ông rằng: bảy mươi lăm mùa xuân cống hiến chưa một lần được nghỉ ngơi.

Chuyện vui quanh cái tên của ông

Xung quanh cuộc đời hoạt động của ông có lẽ không cần nói thì ai cũng biết nhưng có một điều mà ít người biết thậm chí là nhiều người nhầm lẫn bởi cách đặt tên “không giống ai” hay nói cách khác là quá đặc biệt trong gia đình ông. Gia đình ông có tất cả 9 anh chị em trong đó có 5 nữ và 4 nam. Trong số 4 anh em trai thì cả 4 người đều đặt tên giống nhau là Phùng Văn Tửu. Cũng trong dòng họ, người chú ruột thứ ba của ông có 3 người con nhưng tất cả lại cũng đặt tên là Phùng Văn Tửu. Không hiểu có phải vì các cụ ngày xưa cố ý hay không mà gia đình người chú thứ hai và gia đình bà cô của ông, toàn bộ con trai đều đặt tên là…Cốc.

Cũng không biết từ bao giờ nhưng theo các cụ cao niên kể lại thì tục xưa trong dòng họ hễ có con trai sinh ra thì hoặc là khó nuôi hoặc là mất sớm. Chính vì vậy, khi ông Phùng Văn Tửu sinh ra, để tránh cái “dớp” xưa, theo lệ ở vùng, mẹ ông đem bỏ ông đi. Nói là bỏ nhưng bà cũng nói trước với một người phụ nữ trong vùng để bà này mang về nuôi. Thế rồi ông sống khỏe mạnh vậy nên tất cả những người con trai sinh ra sau này, hai cụ thân sinh của ông đều đặt tên giống người con trai cả. Chuyện vui xưa uống rượu thì phải có ly. Có lẽ cũng vì một thú vui xưa ấy mà người chú và cô của ông sau này đặt tên con một loạt là Cốc. Vì thế để phân biệt, người ta gọi ông là Phùng Văn Tửu “anh”, người em kế ông – GS Phùng Văn Tửu hiện nay là Phùng Văn Tửu “em”, người em kế tiếp là Phùng Văn Tửu “ba”, người em út của ông gọi là Phùng Văn Tửu “Út”. Sau này khi các anh em trong gia đình có con thì gắn tên con vào tên mình để dễ phân biệt.

Sự trùng hợp về cả họ và tên của các anh em trong cùng một gia đình cũng là chuyện lạ hầu như chưa có bao giờ nhưng chính cái lạ ấy cũng nhiều lần gây ra sự hiểu lầm đối với những người không biết rõ. Số là người em trai của ông là GS. Phùng Văn Tửu (em) là một người rất có tiếng trong giới văn học. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông Phùng Văn Tửu (em) vào công tác tại Đại học Vinh. Lúc bấy giờ cha mẹ còn sống nên thỉnh thoảng ông vẫn hay ra bưu điện gửi tiền về phụ giúp bố mẹ. Vì ông Phùng Văn Tửu (anh) ở gần bố mẹ nên ông thông qua anh để gửi biếu bố mẹ ít tiền tĩnh dưỡng tuổi già. Khi ông đưa tiền, cô nhân viên bưu điện trố mắt nhìn ông đầy vẻ nghi ngờ, không hiểu tại sao. Thì ra trong giấy gửi tiền ông ghi người gửi là Phùng Văn Tửu mà người nhận lại cũng là….Phùng Văn Tửu !
Đó chỉ là một trong số khá nhiều những sự nhầm lẫn của người ngoài về hai anh em ông. Lúc ông Phùng Văn Tửu làm Phó Chủ tịch Quốc hội, nhiều người dân có kiện tụng làm đơn gửi cho Phó Chủ tịch Quốc hội. Nhưng để tìm kiếm thông về địa chỉ Phó Chủ tịch Quốc hội thì khó còn địa chỉ của GS Phùng Văn Tửu (em) thì dễ hơn thành ra đa số những đơn thư đó lại được gửi đến cho…..GS Phùng Văn Tửu (em). Thâm chí khi ông Phùng Văn Tửu (anh) được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội thì người nhận được thư chúc mừng, điện mừng nhất cũng chính là GS. Phùng Văn Tửu (em) ! Ngược lại, cũng có không ít trường hợp thiếu cẩn trọng,  nhầm lẫn khi sử dụng hình ảnh của cố Phó Chủ tịch Phùng Văn Tửu (anh) làm ảnh tác giả cho những cuốn sách của GS Phùng Văn Tửu (em).

Cũng đã hơn 15 năm kể từ ngày vị Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu qua đời. Những người làm việc cùng thời với ông đa số cũng đã nghỉ hưu. Thế nhưng những ấn tượng, những kỉ niệm và sự tôn trọng mà họ dành cho vị Phó chủ tịch Quốc hội này thì vẫn nguyên vẹn. Cứ mỗi dịp giỗ ông, những bạn bè, đồng chí, học trò của ông lại tìm đến ngôi nhà nhỏ mà con trai ông đang sinh sống và thờ tự ông để thắp nén nhang tri ân, tưởng nhớ tới ông. Với những cống hiến không biết mệt mỏi của ông, năm 2011, Đảng và Nhà nước cũng đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh như một sự ghi nhận trọng thể những cống hiến của ông cho đất nước.

Phạm Thành