Chuyện về ông Bí thư tuyên chiến với “nhóm lợi ích” và “ông Quốc hội” của Dân…

(Pháp lý) – Lâu nay, việc lựa chọn đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt là vấn đề cốt lõi để hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu duy nhất, cao nhất là: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội. “Cán bộ là cái gốc của mọi việc”, thế nhưng để lựa chọn được những cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” không phải là dễ. Trên thực tế, vì danh lợi, không ít cán bộ quan chức khi nắm quyền lực trong tay đã thoái hóa, tìm đủ mọi cách để tư lợi vơ vét cho riêng mình. Chính vì thế, chuyện về hai quan chức dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn đau đáu hai chữ vì dân mà Phóng viên Pháp lý đã có dịp tiếp xức và cảm nhận trong bài viết dưới đây, hy vọng sẽ khiến không ít quan chức hiện nay phải suy ngẫm và xem lại mình.

Ông Bí thư Tỉnh ủy và “cú đòn” đánh vào “nhóm lợi ích”

Gần 90 tuổi, ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng ông Nguyễn Văn Tôn vẫn còn rất minh mẫn. Tiếp xúc với ông, sự ôn tồn, giản dị khiến ít người đoán biết được ông là quan chức đầu tỉnh đầy quyền lực một thời (Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc).

Bên chén trà nóng, ông bảo, trong cuộc đời làm cán bộ của ông cũng như ở thế hệ các ông trước đây, ít xảy ra việc bòn rút tiền công, ít có tư tưởng “lợi ích nhóm”. Nhưng mỗi khi xem thời sự phát trên truyền hình, ông cảm thấy buồn, thất vọng vì những người được coi là cán bộ, là “công bộc” của dân, họ lại không vì dân, có việc làm làm cho dân nghèo đi.

 Ông Nguyễn Văn Tôn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc

Ông Nguyễn Văn Tôn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc

Ông nói, trước đến nay, tôi luôn nghĩ mình là một người dân Vĩnh Phúc không hơn, không kém, thời điểm còn làm cán bộ tôi cũng chỉ nghĩ trong đầu như thế. Đã là dân thì phải biết nỗi khổ của dân, phải biết dân mình cần gì, cái gì là cấp thiết. Dân là nền tảng.

Hàng ngày, mỗi khi bước chân ra khỏi nhà đi tập thể dục, ông Nguyễn Văn Tôn vẫn nghe người dân than phiền về điều này, tiếng nọ, về nỗi khổ của người dân nghèo, về một vài cán bộ thoái hóa, biến chất. Ông cảm thấy buồn phiền trong lòng. Từ những chuyện bên lề như thế, mỗi khi về nhà ông lại bật tivi lên xem thời sự trong tỉnh, và ông cảm nhận thấy những điều dân nói là đúng.

Khi ấy, ông cứ trăn trở mãi về hàng loạt các khuất tất mà dư luận bức xúc về cụm công trình có tổng số vốn đầu tư lên đến cả nghìn tỉ đồng ở Vĩnh Phúc. Theo ông, các dự án này có nhiều “ẩn số” cần phải giải đáp. Nếu có việc đầu tư trái luật, phục vụ “lợi ích nhóm” thì cần phải triệt tiêu. Nghĩ là làm, hàng ngày ông Tôn đi dò tìm, nghiên cứu và thu thập các tài liệu liên quan đến cụm công trình nghìn tỉ ấy.

Và rồi ông phát hiện ra rằng, mặc dù Hợp đồng BT ký kết giữa Sở xây dựng Vĩnh Phúc (đại diện cho UBND tỉnh Vĩnh Phúc) và nhà đầu tư (Công ty Cổ phần Sông Hồng Thủ Đô), nhưng lạ là cùng với nhiều văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Vĩnh Phúc lại thống nhất phương thức thanh toán: “Thanh toán từ nguồn ngân sách Nhà nước tỉnh sau khi công trình hoàn thành. Phương thức chi tiết thể hiện trong hợp đồng BT, đảm bảo phù hợp với khả năng cân đối vốn của tỉnh”. Nhưng từ khi ký hợp đồng đến khi thực hiện mới được hai tháng đã thanh toán. Trong khi đáng ra công trình phải hoàn thành 100% thì mới thanh toán 85%, còn 15% còn lại để bảo trì công trình.

“Mặt khác, rõ ràng ngân sách của tỉnh có, chủ trương xây dựng đã được thông qua HĐND, nhưng khi thực hiện lại có dấu hiệu thông thầu, kiếm trác với nhau. Ngoài hai công trình bị khởi tố, còn rất nhiều các công trình khác như Đường Nam Vĩnh Yên, công trình này được thanh toán dưới hình thức đổi đất lấy công trình. Tỉnh Vĩnh Phúc đã giao cho Công ty Cổ phần Sông Hồng Thủ đô một số đất để họ làm khu nghỉ dưỡng, đổi lại họ xây dựng cho tỉnh đường và cầu vượt. Nhưng sau đó không hiểu vì sao tỉnh lại vẫn thanh toán cho họ, vậy là sao?”, ông Tôn bức xúc.

Ông cũng chỉ ra rằng, rất nhiều các công trình khác như công trình Văn Miếu tỉnh cũng thể hiện sự bất thường, không minh bạch, không đúng thời điểm và nhu cầu của người dân. “Tôi rất buồn vì những công trình phục vụ dân sinh cấp thiết đến như Bệnh viện, trường học lại bị họ sao nhãng. Bệnh viện Tam Dương chậm tiến độ hàng năm nay vì thiếu vốn, Bệnh viện ĐK tỉnh, Bệnh viện Sản Nhi… đều xuống cấp. Ông Giám đốc Sở y tế lên tivi trả lời chất vấn là “không có vốn”, vốn ở những công trình cả vài trăm tỉ đấy chứ đâu, tại sao những thứ cần kíp với dân lại không làm?”, ông Tôn nói.

 Từ tố cáo của ông Nguyễn Văn Tôn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã vào cuộc điều tra và khởi tố vụ án hình sự liên quan đến 2 dự án BT tại Vĩnh Phúc (ảnh: Dự án xây dựng khu Quảng trường, công viên tỉnh Vĩnh Phúc)

Từ tố cáo của ông Nguyễn Văn Tôn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã vào cuộc điều tra và khởi tố vụ án hình sự liên quan đến 2 dự án BT tại Vĩnh Phúc (ảnh: Dự án xây dựng khu Quảng trường, công viên tỉnh Vĩnh Phúc)

Đầu tư khủng, nhưng sau đó những lợi ích mang lại thì không thực sự thiết thực, nhà hát thì bỏ không, Công viên quảng trường chưa mang lại được nhiều hiệu quả. Ông Tôn còn cho rằng, hai dự án lớn bị khởi tố chỉ là “phần nổi của tảng băng” nên cảm thấy rất buồn phiền… Đây cũng là lý do ông Tôn thay mặt cho người dân Vĩnh Phúc viết một lá đơn tố cáo gửi lên cơ quan CSĐT Bộ CA, yêu cầu làm rõ.

Trước khi có quyết định tuyên chiến với “nhóm lợi ích”, nhiều đêm ông Tôn không thể ngủ ngon. Nhiều người nói với ông rằng, con trai ông (khi ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội) còn “con đường quan lộ” dài ở phía trước. Ông làm như vậy có thể không được gì mà còn ảnh hưởng đến tương lai của con mình. Nghĩ mãi, ông vẫn quyết làm.

Sau này, Bộ công an đã có văn bản số 2833 gửi UBND tỉnh Vĩnh Phúc thông báo về việc khởi tố vụ án hình sự liên quan tới hai dự án BT, ông rất mừng. Nhưng trong phiên họp Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 -2020, con trai ông, ông Nguyễn Thế Trường lại không trúng vào Ban Thường vụ tỉnh này. Ông Tôn bảo, ông không buồn vì những gì mình đã làm. “Cái đúng thì phải làm cho dân, cái dân cần là quan trọng nhất”, ông Tôn khảng khái cho biết.

Trước khi có quyết định tuyên chiến với “nhóm lợi ích”, nhiều đêm ông Tôn không thể ngủ ngon. Nhiều người nói với ông rằng, con trai ông (khi ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội) còn “con đường quan lộ” dài ở phía trước. Ông làm như vậy có thể không được gì mà còn ảnh hưởng đến tương lai của con mình. Nghĩ mãi, ông vẫn quyết làm, quyết tuyên chiến với “nhóm lợi ích” ở Vĩnh Phúc.

“Ông Quốc hội” của dân

Nhà ông Phin ở thôn Tân Thành, xã Hồ Thầu (huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang). Đến được nhà ông phải vượt quãng đường cả trăm cây số cua lượn đến chóng mặt. Ông về quê sau đận nghỉ hưu để làm nhà, làm ruộng và trồng thảo quả. Ông nuôi cả trâu, cả gà vịt nữa.

Hỏi về ông, người ta chỉ lên đỉnh núi Tồm Lang. Họ bảo, ít khi gặp được ông ấy vì ông đi làm suốt, có thể là để bù cho cái thời ông còn làm cán bộ Chủ tịch Mặt trận, Đại biểu Quốc hội nổi tiếng tỉnh Hà Giang.

Trời nghiêng chiều, ông mới về. Ông vận bộ quần áo chàm, mũ dân tộc đội đầu, dao nhọn dắt bên sườn cùng lốc cốc tiếng mõ trâu. Trông ông hệt một nông dân dân tộc, không còn gì lưu lại dáng vẻ quan chức một thời, kẻ đón người đưa, giầy Tây áo hộp.

Ông thủng thẳng bảo, tớ chẳng muốn làm quan chức. Vì dân thì làm. Làm vì dân tín nhiệm thôi. Nay về, bỏ hết, về với quê hương, gia đình, lội rừng chăn trâu, xoay trần trồng rừng và thảo quả.

 Ông Phượng Quầy Phin, Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang (khóa X, XI)

Ông Phượng Quầy Phin, Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang (khóa X, XI)

Ông Phượng Quầy Phin sinh năm 1947. Ông bảo, làng ông là một bản người Dao thuần nhất dưới chân núi Tồm Lang. Ngày trẻ ông cũng xác định có một cuộc sống bình thường thôi. Thế nhưng đói nghèo quá, động đâu vướng đấy vì không có chữ, không biết đọc, biết xem để mà học, mở mang cái đầu.

Mù chữ là bi kịch, xác định vậy nên ông quyết định đi học để lấy chữ. Học hết cấp 2, ông quẩy quả lội bộ 60km đường rừng ra tận ngã ba Tân Quang của huyện Bắc Quang bây giờ để đón một chuyến xe duy nhất trong ngày sang Thái Nguyên học ở trường Trung cấp Nông nghiệp Việt Bắc. Học xong về, muốn nhiều người dân biết chữ nên ông xin làm giáo viên. Dạy được 2 năm, giúp vài chục người đọc thông viết thạo thì ông “bị” huyện “gọi” sang làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp. Vẫn muốn dạy học nữa nhưng huyện đã “gọi” nên ông phải đi.

Làm ỏ huyện được 2 năm thì bố ông mất. Để có điều kiện giúp mẹ chăm các em, ông viết đơn xin về làm cán bộ xã. Làm chưa được 2 năm thì ông lại “bị” huyện “gọi”. Lại phải ra làm cán bộ, lại được xuống tận trường Nguyễn Ái Quốc học chính trị. Về, thấy ông hoạt bát lại hay lo cho dân nên huyện đưa ông sang làm Phó Giám đốc Cty Thương mại vì các mặt hàng thiết yếu để phục vụ cho dân vùng cao lúc này khan hiếm vô cùng.

Sau, cũng do nhanh nhẹn, lại cái tính hay lo cho dân nên ông lại được đưa sang làm Trưởng Ban tổ chức chính quyền huyện, tiếp tục làm Phó chủ tịch rồi Chủ tịch huyện. Ông giữ chức vụ này hơn 10 năm. Tưởng con đường quan lộ của mình “đã yên”, ngờ đâu năm 1997 ông được tỉnh rút về, làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh 2 khóa liền. Rồi lại làm Đại biểu Quốc hội khóa X. Nhiệm kỳ hết, ông đề xuất ý kiến xin không ứng cử. Nhưng do dân tín nhiệm quá, nhiều người, nhiều xã còn viết cả thư lên tỉnh xin ông phải làm tiếp, ông lại được bầu, lại làm Đại biểu Quốc hội, Phó đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh khóa XI.

Gia sản của ông Phin hiện là ngôi nhà nằm cheo leo trên đỉnh Tồm Lang. Ông bảo không gì sướng bằng được sống với dân quê mình, dân là trên hết. Ông về, với tâm niệm được gần dân quê và muốn làm gì đó để giúp dân. Ngôi nhà của ông, cách đường gần 7 giờ leo núi, toàn bộ do dân giúp để làm. Ông bảo, thấy ông về, bảo làm nhà trên Tồm Lang nên mọi người vui lắm. Ai cũng chủ động đến giúp, khuân vật liệu lên mất 7 tháng trời mà ông chả mất đồng tiền công nào, chỉ mất cơm và rượu cho dân bản thôi.

Nhà ông giữa lưng trời nhưng cái gì cũng có. Cây cối, rau quả tốt bời bời, mùa nào thức ấy. Trên đỉnh núi cao hơn nghìn thước với mực nước biển ông cũng đào ao thả cá. Nước được dẫn từ suối Bành Bang về, ông lại mua máy điện mini về lắp, có điện thắp cả ngày, chẳng phải tranh cãi với ai vì giá lên, giá xuống.

Ông bảo ngày còn xỏ giầy da, mặc com lê xuống Hà Nội hay đi tiếp xúc cử tri mình thấy nhiều người nói mà chả chịu làm. Người vùng cao, lại là dân tộc thiểu số nữa, muốn họ làm được thì mình phải làm trước đã. Làm để dân học rồi làm theo như thế sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Chính vì cái sự làm để dân làm theo này mà không ai có thể quên được ngày ông còn làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh. Ngày ấy, trong những lần xuống với dân, ông đã phát hiện ra đất ở huyện Quang Bình (Huyện mới tách ra từ huyện Bắc Quang) rất hợp với cây keo. Đất đai bỏ trống nhiều, dân không có thu nhập nên ông đã đề xuất việc trồng keo nguyên liệu để phủ xanh đất, tăng thu nhập.

Ngày ấy, việc trồng keo và gỗ nguyên liệu còn rất lạ lẫm với dân ở đây nên họ hồ nghi. Với quan điểm nói đi đôi với làm, làm để dân thấy và học nên không nề hà ông đã xuống tận huyện Quang Bình để thuê mấy chục ha đất. Thế là cứ vào những này cuối tuần, ông lại đi xe khách xuống đó, xoay lưng trần, dọn đất và trồng cây. Cây lên, quay đi quay lại, ông bán, có tiền nên người dân học theo. Chính nhờ việc làm này mà hiện Quang Bình đã có rất nhiều hộ dân trồng keo với diện tích lớn, nhiều người làm giầu bằng nghề này.

Nhờ việc cho giống cây và hướng dẫn người dân cách trồng thảo quả của ông Phìn, nhiều hộ gia đình ở Hoàng Su Phì đã thoát nghèo
Nhờ việc cho giống cây và hướng dẫn người dân cách trồng thảo quả của ông Phìn, nhiều hộ gia đình ở Hoàng Su Phì đã thoát nghèo

Lại chuyện ông dạy dân trồng thảo quả để xóa đói giảm nghèo. Cũng vẫn ngày làm Chủ tịch Mặt trận tỉnh, trong một lần lên vùng cao, ông thấy tại huyện Quản Bạ bày bán khá nhiều thảo quả. Tưởng dân đã biết ích lợi và giá trị của loại cây này nên đã trồng được, ông hỏi để nhân rộng thì được biết thảo quả được bày bán là do đưa từ Trung Quốc sang. Đăm chiêu, với kiến thức đã học, ông nghĩ Quản Bạ có khí hậu tương đồng như một số vùng miền có trồng thảo quả bên Trung Quốc, sao dân không trồng mà lại phải lấy từ họ. Thế là ông lại mầy mò, dành thời gian rỗi vượt gần 50km, vượt qua dốc Pắc Sum để lên Quản Bạ, xoay lưng trần dạy dân trồng loại cây này. Chẳng bao lâu thảo quả nơi đây đã tốt um, dân bán có thu nhập mà không phải sang biên giới đưa về nữa.

Về với đỉnh Tồm Lang, ngoài chăn trâu, ông cũng đưa cây thảo quả về đây trồng. Tự mình làm đất, ông đã trồng tới 5ha thảo quả. Đến mùa thu hoạch, thương lái tìm vào, ông gọi dân đến xem và bán quả. Tiền thu được ông đếm cho dân xem. Dân hào hứng, muốn ông dạy cho cách trồng, ông đã đề xuất với Ủy ban Nhân dân tỉnh và Sở Khoa học Công nghệ hỗ trợ giống, kinh phí còn ông thì dậy dân cách trồng. Và hiện nay, vùng Hồ Thầu quê ông đang được coi là vựa thảo quả của miền cực Bắc Hà Giang. Nhiều hộ gia đình nhờ cây này, nhờ sự hướng dẫn và cho giống cây của ông đã giầu nên nhanh chóng.

Ông bảo, cái ông thích nhất bây giờ là lòng dân và tình cảm dân dành cho mình. Căn nhà được phân ngoài thị xã hồi làm cán bộ ông cũng không dùng nữa. Cái điện thoại cũng cho rồi. Hiện ông chỉ còn “phải lấy” 3,8 triệu tiền lương do nhà nước cấp phát theo chế độ hưu trí hàng tháng thôi. Mọi thứ ông tự làm, tự có nên số tiền ấy ông không dùng đến, thường cho người nghèo trong thôn vay để họ phát triển kinh tế. Họ làm được thì đem đến trả, còn không ông cũng chẳng nhớ đã cho ai vay, ai mượn nữa.

Gia sản của ông Phin hiện là ngôi nhà nằm cheo leo trên đỉnh Tồm Lang. Ông bảo không gì sướng bằng được sống với dân quê mình, dân là trên hết. Ông về, với tâm niệm được gần dân quê và muốn làm gì đó để giúp dân. Ngôi nhà của ông, cách đường gần 7 giờ leo núi, toàn bộ do dân giúp để làm. Ông bảo, thấy ông về, bảo làm nhà trên Tồm Lang nên mọi người vui lắm. Ai cũng chủ động đến giúp, khuân vật liệu lên mất 7 tháng trời mà ông chả mất đồng tiền công nào, chỉ mất cơm và rượu cho dân bản thôi.

Đức Hạnh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *