Nhà giáo ưu tú, Thạc sĩ Luật Trần Đức Thìn (Đại học Luật Hà Nội): Khung hình phạt quá rộng, dễ dẫn đến sự tùy tiện của Tòa trong xét xử

(Pháp lý) – “Trong thực tế, khi một vụ án được đưa ra xét xử, điều mà người dân nhớ không phải là việc định tội danh mà là việc quyết định hình phạt. Bản án của tòa tuyên phạt bao nhiêu năm tù giam? Bồi thường bao nhiêu tiền? Hành vi như vậy thì phải bị trừng phạt như thế nào mới tương xứng? Về mặt luật pháp thì điều đó là cực đoan, nhưng theo tôi cái cực đoan ấy không phải không có lý…” Nhà giáo ưu tú, Thạc sĩ Trần Đức Thìn (Giảng viên chính của Đại học Luật Hà Nội) chia sẻ về những vấn đề xung quanh việc xác định hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) và những bất thường trong việc vận dụng các quy định của BLHS để xác định hình phạt tại một số phiên tòa gây bức xúc dư luận.
 
Khung quá rộng…

Vấn đề hình phạt được quy định tại chương V của Bộ luật hình sự. Theo đó: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.”

Nhà giáo ưu tú, Thạc sĩ Luật Trần Đức Thìn
Nhà giáo ưu tú, Thạc sĩ Luật Trần Đức Thìn

Về căn cứ quyết định hình phạt: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của hình phạt, với quan điểm nhìn nhận của mình, ông Trần Đức Thìn cho rằng: Trong thực tế việc quyết định tội danh nào thì cũng không quan trọng bằng việc hình phạt nào. Bởi tội danh thì người ta có thể quên luôn, còn hình phạt nó cứ nay náy mãi trong suy nghĩ của mọi người. Bản thân ông từng quan tâm đến những vụ án của các cấp tòa trong nhiều năm, để theo dõi và nghiên cứu xem hình phạt mà tòa áp dụng cho các tội phạm đó như thế nào, có nghiêm khắc chưa?.

Hiện nay BLHS nước ta quy định về mức hình phạt theo hướng khung, tức là mức thấp nhất và cao nhất trong một khoản của một tội. Cách quy định này vừa có những ưu điểm lại có những nhược điểm. Ưu điểm là nó đánh giá được các tính chất khác nhau của các trường hợp phạm tội. Nó tạo ra khoảng, khoanh vùng để người ta lựa chọn những biện pháp hình phạt phù hợp. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là không có khuôn thước rõ ràng xác định khi nào áp dụng mức tối thiểu và khi nào áp dụng tối đa. Nhất là trong những trường hợp cùng một khung mà sự tối thiểu và tối đa xa nhau thì sự tùy tiện của những quan tòa càng lớn.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong BLHS, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Ông Trần Đức Thìn phân tích: Ở nhiều tội được quy định trong BLHS, trong cùng một khung, sự chênh lệch về hình phạt là rất lớn. Ví dụ như ở Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS). Tại khoản 2 thì chênh lệch từ hai năm đến bẩy năm, như vậy chênh lệch giữa các khoản là bốn năm (Chuyển từ tội ít nghiêm trọng sang tội nghiêm trọng). Theo khoản 3 thì tù từ bẩy năm đến mười hai năm, như vậy chênh lệch là 5 năm (chuyển từ tội nghiêm trọng đến rất nghiêm trọng). Theo tôi, quy định khung quá rộng sẽ khó đánh giá được tính chất khác nhau của tội phạm trong từng trường hợp phạm tội.

Quyết định mức hình phạt nào trong khung phụ thuộc lương tâm thẩm phán?

Đề xuất biện pháp chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp:

“Rút ngắn khung hình phạt sẽ hạn chế tiêu cực” là ý kiến của nhiều đại biểu tham gia Hội thảo về phòng chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp, kinh nghiệm của một số nước trên thế giới do Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương phối hợp với chương trình Đối tác tư pháp (do Liên minh châu Âu, Đan Mạch, Thụy Điển) diễn ra ngày 3-4 tại TP.HCM.

Theo đó, nhiều đại biểu nhận định nguyên nhân dẫn đến tiêu cực trong hoạt động tư pháp là đã trao quyền quá lớn cho tòa án. Thêm vào đó, hiện tại có nhiều khung hình phạt trong Bộ Luật hình sự của VN quá dài, từ mức tù có thời hạn 10 năm, 12 năm, 20 năm, chung thân rồi tới án tử hình dành cho một tội danh, như vậy quyền quyết định của thẩm phán quá rộng, dễ sinh tiêu cực. Bởi vậy cần thiết kế lại khung hình phạt trong Bộ Luật hình sự, làm sao cho khoảng cách mức án trong khung hình phạt ngắn lại. Khung hình phạt càng ngắn bao nhiêu càng hạn chế được sự tiêu cực của thẩm phán bấy nhiêu.

Cũng tại Hội nghị, nhiều đại biểu cho rằng, cũng cần có một quy tắc đạo đức thẩm phán để hạn chế tiêu cực trong hoạt động tư pháp.

“Tôi từng theo dõi một vụ án với hai bị cáo phạm vào Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” dẫn đến việc tử vong của hai cháu nhỏ trên đường Lê Văn Lương. Án xử từ cấp tòa này đến cấp tòa khác nhưng mức án vẫn rất nhẹ. Khi thấy mức án quá nhẹ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bị cáo có thể kháng cáo, VKS và Tòa cấp trên có thể kháng nghị… Thế nhưng thực tế, những vụ án mà tòa xử nhẹ không bị kháng cáo, kháng nghị vẫn nhiều vô kể, khiến những người nghiên cứu pháp luật rất băn khoăn”, ông Trần Đức Thìn chia sẻ.

Là một chuyên gia nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy Luật hình sự, ông Trần Đức Thìn cho rằng: Nếu việc định tội danh chúng ta có khuôn mẫu là cấu thành tội phạm thì việc quyết định hình phạt lại chưa có khuôn mẫu. Bởi theo quy định của BLHS cùng những văn bản hướng dẫn của TANDTC thì khi quyết định hình phạt, không có những điều kiện rõ ràng để có thể áp dụng mức thấp nhất hoặc cao nhất của khung hình phạt. Có thể nói, việc quyết định mức hình phạt nào trong khung phụ thuộc vào lương tâm thẩm phán…

Có rất nhiều văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề xác định tội danh nhưng rất hiếm các văn bản hướng dẫn của TANDTC về việc quyết định hình phạt. Theo tìm hiểu của ông Trần Đức Thìn, chỉ duy nhất có các tội phạm về ma túy là có hướng dẫn áp dụng mức hình phạt theo Nghị quyết số 01/2001/NQ – HĐTP ngày 15/3/2001 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 của BLHS năm 1999 là cụ thể và chi tiết. Còn không hiểu vì lý do gì mà Tòa tối cao rất ít hướng dẫn về việc xác định hình phạt cho dù vấn đề hình phạt là vấn đề khá nhức nhối và gặp nhiều phản ứng từ dư luận.

Từ vấn đề tùy nghi xác định hình phạt trong khung (có thể là cao nhất, thấp nhất hoặc trung bình). Quy định như vậy nên trong nhiều vụ án, thẩm phán đã mặc nhiên áp dụng ở mức thấp nhất của khung, sau đó lại có thể thấp hơn nữa theo quy định của BLHS: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án…”.

Các quy định đó của Luật đã “tạo kẽ hở” khiến việc áp dụng hình phạt một cách dễ dãi hơn. Theo ông Trần Đức Thìn thì BLHS cần sửa đổi những quy định này để tránh việc dễ dãi, tùy tiện trong quyết định hình phạt.

Hạn chế sự tùy tiện của nhà tòa từ gốc…

Trước những vấn đề bức xúc của dư luận như việc tòa án nhiều cấp xét xử và tuyên những hình phạt quá nhẹ so với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhiều lãnh đạo của Tòa án cho rằng, sẽ xử lý kiểm điểm những thẩm phán trên, kiểm điểm trách nhiệm lãnh đạo… Tuy nhiên, theo ông Trần Đức Thìn thì việc ra bản án đã xảy ra rồi. Việc xử lý như vậy chỉ là xử lý từ ngọn.

Trăn trở với vấn đề trên, ông Trần Đức Thìn hiến kế để hạn chế sự tùy tiện của thẩm phán từ gốc. Về vấn đề khung hình phạt: “Tôi nghiên cứu và theo dõi pháp luật của Nga, tôi thấy họ chia khung rất ngắn. Kinh nghiệm cho thấy, để khung hình phạt ngắn có thể hạn chế được sự tùy tiện của thẩm phán. Theo tôi nên chia nhỏ khung hình phạt ra. Tội được quy định trong BLHS thường có từ 4 đến 5 khung hình phạt bây giờ chia nhỏ hơn, khoảng cách giữa mức thấp nhất và cao nhất trong khung trong khoảng 3 hay 4 năm là hợp lý.

“Nhiều khi tôi thấy băn khoăn, TANDTC chưa “nhiệt tình” hướng dẫn việc áp dụng hình phạt. Tôi chỉ thấy ở tội phạm ma túy thì Hội đồng thẩm phán TANDTC mới có hướng dẫn cụ thể. Bởi vậy tôi đề xuất, ngoài quy định của BLHS thì TANDTC cũng cần chú ý hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng hình phạt”.

Đối với vấn đề áp dụng hình phạt nhẹ nhất trong khung và cao nhất ở khung liền kề nhẹ hơn, ông Thìn cho rằng: BLHS nên quy định cứng về các tình tiết giảm nhẹ mà tòa được phép sử dụng. Các tình tiết giảm nhẹ phải quy định tại khoản 1 Điều 46 thì mới được áp dụng. Không nên cho tòa tùy tiện quyết định tình tiết giảm nhẹ rồi ghi trong bản án như Điều 47 quy định.

Phan Tĩnh – Lan Hương (thực hiện)