Luật gia, nhà báo, nhà thơ, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Phòng: “Người lưu giữ những sự kiện của đất nước”

(Pháp lý) – Trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ thơ tại thị trấn Văn Điển, tôi tình cờ gặp ông. Khi biết tôi là phóng viên đến dự, ông lấy bút ghi vào mẩu giấy màu hồng: “Nếu các đồng chí có điều kiện, xin mời đến thăm nhà tôi, trao đổi về báo chí,… nhà bác Nguyễn Đình Phòng”. Trong không khí sôi động của buổi sinh hoạt, lúc mọi người ngâm thơ, bình thơ thì tâm trí tôi lại bị mảnh giấy kia làm mất tập chung, từ đó trong đầu luôn hiện hình hàng loạt câu hỏi: Ông là ai? ông có điều gì muốn trao đổi?… Một lúc sau, khi buổi sinh hoạt kết thúc, ông ra về, tôi chạy theo và chỉ kịp nói một câu: “Thưa bác, 15h chiều mai cháu đến thăm bác”!.

Ông Hội thẩm nhân dân “gàn dở”

Ông Phòng bên những số báo Nhân dân số ra tháng 9/1969

Sau hôm ấy, tôi chỉ mong thời gian trôi thật nhanh để được gặp ông và giải đáp những khúc mắc trong lòng. Đúng 15h chiều hôm sau, tôi đã có mặt trước cửa nhà (tại Quốc Bảo – thị trấn Văn Điển – Hà Nội), ông ra mở cửa, dẫn chúng tôi vào nhà. Sau khi mời chúng tôi ngồi, ông đi vào phòng khách lấy nước và lúc này chúng tôi vẫn chưa thể đoán được ông là ai ?!

Nhân lúc chủ nhà “đi vắng”, chúng tôi quan sát những bức tranh trên tường thì nhận ra ông có chụp ảnh, đứng cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những bức ảnh chụp tại Điện Biên Phủ sau những năm 1954 cùng đồng đội của ông, rồi những bức ảnh của ông bằng gỗ có in dòng chữ “các em là đội cảm tử, các em quyết tử để cho Tổ quốc  quyết sinh – Hồ Chí Minh”… Đến đây, chúng tôi đã mường tượng ra ông là ai: ông là chiến sĩ của đội cảm tử quân trong những năm tháng giành lại thủ đô, sẵn sàng ôm bom vào lòng địch với khẩu hiệu “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, ông là người trực tiếp tham gia trận đánh Điện Biên Phủ, và ông còn là một nhà báo, một nhiếp ảnh gia trưởng thành trong kháng chiến. Mới biết vậy thôi, trong lòng chúng tôi đã cảm phục và ngưỡng mộ ông lắm rồi, thế nhưng đó mới chỉ một vài chi tiết nhỏ về ông mà thôi.

Ông tên là Nguyễn Đình Phòng  (sinh năm 1926), Nguyên là cán bộ cấp cao Bộ Nội vụ, nguyên là Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân Hà Nội, Nhà báo, Nhà thơ, Nhiếp ảnh gia với khá nhiều tấm ảnh, bộ phim tư liệu về Việt Nam suốt một chặng đường dài. Ngoài ra, ông còn là Hội viên Hội Luật gia Việt Nam trong những năm làm Hội thẩm nhân dân. Là một người nắm khá rõ về Luật cũng như các văn bản nghị định đi kèm, hơn nữa lại là người tham gia xét xử nhiều vụ án quan trọng, nên mỗi khi nói những vấn đề về luật, về dấu ấn nơi pháp đình, ông đã kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện vui, buồn, cười ra nước mắt đã theo ông suốt những năm tháng qua.

Trước hết, xin nói về ông trên phương diện một cán bộ về hưu, được giao nhiệm vụ làm hội thẩm nhân dân. Ông bảo “15 năm làm công việc hội thẩm nhân dân đã cho tôi hiểu rõ hơn về bản chất của con người phạm tội và tính chất khách quan của những điều mà pháp luật quy định. Chẳng hạn như trước đây chúng ta thường thấy, khi đưa bị cáo ra xét xử, họ thường đeo còng và mặc áo tù. Tôi thấy như vậy là không hợp lý, vì họ đã là tù nhân đâu mà mặc áo tù, khi nào tòa án tuyên án chính thức thì anh ta mới đúng là người phạm tội và lúc đấy mới phải mặc áo tù, đeo còng số 8. Nghĩ vậy nên tôi đã đề xuất lên các cấp bãi bỏ điều này, sau đó việc bị cáo mặc áo tù trước vành móng ngựa đã được xóa bỏ”.

Ông Nguyễn Đình Phòng bên những thước phim mà tự tay ông làm nên

Nhớ lại những dấu ấn nơi pháp đình, những vụ án đã để lại trong ông nhiều trăn trở, chúng tôi mới được rõ hơn về ông cán bộ hội thẩm năm xưa. Ông chính là một trong hai hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án Khánh “trắng”. Theo ông, Khánh “trắng” là một nhân vật khá nguy hiểm, cầm đầu băng đảng xã hội đen khét tiếng Hà Nội trong những 1995. Khánh có vẻ ngoài nho nhã, thư sinh song lại được xem là một sát thủ máu lạnh đội lốt một anh đội trưởng đội bốc xếp với nhiều công tác từ thiện nhằm che mắt thiên hạ.  Khánh “trắng” bị phạt với  4 tội danh: “giết người”, “cướp tài sản”, “trốn thuế”, “che dấu tội phạm”. “Cho đến bây giờ, vụ án của Khánh “trắng” vẫn còn khá nhiều bí ẩn chưa được làm sáng tỏ, và đó cũng là bài học cho cán bộ tòa án bây giờ”, ông kết luận.

Pháp đình, là nơi chúng ta chứng kiến nhiều cung bậc cảm xúc đối trọng nhất, nơi đó có những giọt nước mắt muộn mằn, ân hận, có những uất ức, căm hờn và có những nụ cười mãn nguyện hả hê. Lại thêm nhiều câu chuyện thật mà như đùa vậy. Ông bảo, có lần đi xử, nhiều người cứ bảo ông là người nhiều chuyện, là gàn dở, thậm chí còn nói thẳng rằng, “ông cán bộ về hưu, là hội thẩm nhân dân, nghiên cứu nhiều làm gì vấn đề đó”. Ngay lập tức họ nhận được một câu trả lời khá đanh thép từ ông: “Đi xử án chứ có phải đi nghe giãi bày đâu. Nếu không nắm rõ bản chất vấn đề thì sao xử được. Một chi tiết nhỏ có thể làm lệch vụ án, mỗi quyết định của tòa đều mang tính ảnh hưởng đến số phận của bị cáo, lơ là sao được”.

Nhấp ngụm nước, ông chia sẻ thêm, với ông, công việc xét xử là một công việc khá đặc biệt, người cầm cán cân pháp luật rất dễ bị đồng tiền làm chao nghiêng cán cân công lý. Một khi đã “chạy án” thì chúng ta thừa hiểu rằng tiền bên nào nặng hơn thì bên đó thắng chứ không còn là công lý nữa. “Có những lần vào phòng nghị án, mọi người đang trang luận thì có người phụ nữ bước vào rồi ngồi sụp xuống bên cạnh thẩm phán, là một người trong nghề, lại tận mắt chứng kiến, tôi thừa hiểu chị ta làm gì, muốn gì. Rồi có những hôm đang nghị án trong phòng, có anh chàng thanh niên bước vào, tay anh ta rút ví, miệng anh ta nói “giờ cũng gần trưa rồi, cháu xin phép mời các bác đi ăn trưa”. Nghe anh ta nói vậy, tôi liền xua tay đẩy ra ngoài, “chúng tôi đang làm việc, chúng tôi có nhà nước lo cơm nước, anh không phải lo”, ông tâm sự.

Là cán bộ tòa án, điều khiến ông trăn trở nhất hiện nay trong xét xử chính là chạy theo phong trào thi đua để rồi bỏ sót tội danh. Theo ông, việc điều tra không kĩ sẽ dẫn đến oan sai. Ông lấy ví dụ như một vụ án, cơ quan điều tra bỏ sót một chi tiết, sau đó hồ sơ được chuyển lên viện kiểm sát, viện kiểm sát phát hiện ra chi tiết sai nhưng nếu trả lại hồ sơ thì cơ quan điều tra kia mất điểm thi đua. Ngược lại, viện kiểm sát không gửi trả hồ sơ mà tống đạt tội danh, rồi chuyển sang hội đồng xét xử, tòa án cứ để vậy rồi xử, vậy là bản chất vụ án không được sáng tỏ và như vậy oan sai bắt nguồn từ đó.

Suốt 15 năm làm hội thẩm nhân dân, ông đã được tặng nhiều giấy khen khác nhau và ông cũng là người duy nhất trong vòng 5 năm nhận được 2 bằng khen của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội. Với trách nhiệm của một cán bộ toà án là vậy, thế nhưng người ta biết nhiều đến cái tên Nguyễn Đình Phòng không chỉ vì ông là cán bộ hội thẩm nhân dân, mà người ta biết đến tên ông với nhiều chức danh khác.

Nhà thơ, nhà báo, nhiếp ảnh gia,…

Rời khỏi phòng khách, ông đưa chúng tôi đi thăm quan những khối “tài sản” mà ông cho là quý giá nhất. Nào đây là chiếc tủ kính với nhiều loại máy ảnh đã theo ông suốt những năm kháng chiến, nào đây những cuốn sổ ghi chép của một thời đạn bom, nào đây những tờ báo được xuất bản từ những năm 1950, nào đây những trang tài liệu lịch sử, những thước phim về cuộc chiến tranh cứu quốc của nhân dân Việt Nam và đặc biệt hơn nữa là những cuốn phim tư liệu về lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Đình Phòng đến chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Căn phòng khá rộng, là nơi ông dành riêng cho việc lưu trữ tài liệu sách báo. Đầu tiên, ông cho chúng tôi xem những chiếc máy ảnh với nhiều loại khác nhau, đó là những kỉ vật của chiến tranh và của những năm tháng ông làm ở Bộ Nội vụ. “Tôi mê chụp ảnh lắm, nên đi đâu tôi cũng mang máy ảnh đi, bất cứ sự kiện gì, tôi cũng có một vài bức ảnh làm kỉ niệm, những bức ảnh này đều tự tay tôi làm ra cả đấy”. Bên cạnh đấy, là những cuốn abum ảnh mà ông là người chụp và sưu tầm. Những bức ảnh ông đứng bên Bác, bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bên những chiến sĩ Điện Biên một thời khói lửa đạn bom. Những giây phút đau thương, những khúc ca bi tráng một thời đều được ông lưu vào hình ảnh và hiện tại nhiều hình ảnh chỉ duy nhất mình ông có. Bên cạnh những tấm ảnh là hơn 600 cuốn phim về Bác Hồ, về tội ác chiến tranh mà Mỹ đã gây cho nhân dân Việt Nam,… đó là những thước phim mà chính ông quay được nên nó rất có giá trị và nhiều phim chưa được công bố. Cầm cuốn phim trên tay, ông có trăn trở là muốn chuyển sang dạng đĩa, vì thời bây giờ hầu như máy phát bằng băng người ta ít dùng, hơn nữa ông cũng muốn mang những cuốn tư liệu này đến bảo tàng để đông đảo mọi người biết đến.

Khi miền Bắc được độc lập, ông trở về công tác tại Bộ Nội vụ và được giao phó nhiều nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Trong đó có việc giám sát thi công mặt đá tại Lăng Bác, với ông đó là nhiệm vụ linh thiêng và đầy ý nghĩa. Cùng với đó, ông được giao nhiệm vụ viết, biên tập những cuốn sách mang tính chiến lược quân sự, những cuốn “cẩm nang của nhà binh” và được giao nhiều nhiệm vụ trọng yếu ở các khu căn cứ quân sự. Cầm trên tay những cuốn sổ tay có ghi ngoài trang bìa hai chữ “tuyệt mật”, ông bảo “đây là những trang tư liệu bí mật, không thể đưa ra ngoài được, nó ghi chép lại toàn bộ quá trình tôi công tác ở Bộ Nội vụ, trong đó ghi chép cả chuyến tôi đạp xe đạp từ Hà Nội vào mặt trận Quảng Trị năm xưa”.

Chúng tôi gọi ông là “người lưu giữ những sự kiện đất nước”. Không phải đơn thuần mà chúng tôi gọi vậy, mà vì ông lưu giữ toàn bộ sách báo có từ sau đất nước được thành lập. Ông dành riêng một kệ sách viết về Bác Hồ, một kệ riêng viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, một kệ riêng viết về những câu chuyện kháng chiến…và cả một hàng dài những số báo, số tạp chí viết từ những năm 1950 đến nay. Qua những số báo đó, có thể thấy nhiều sự kiện của đất nước đều được lưu giữ lại cho đến tận bây giờ. “Năm 1972, Mỹ quay lại bắn phá miền Bắc, nhà tôi trúng một quả bom, nên cháy mất mấy tạ báo và hình ảnh, tiếc lắm”, ông chia sẻ.

Ông Nguyễn Đình Phòng đang giới thiệu cho tác giả những bức ảnh mà ông chụp được trong chiến khu Việt Bắc

Đến nơi lưu giữ báo, ông dừng lại khá lâu ở tập báo Nhân dân, số ra vào tháng 9/1969. Đây là số báo mà ông lưu giữ cẩn thận nhất, ghi lại toàn bộ diễn biến bệnh tình của Bác trong những ngày cuối đời. Nơi đó, lưu giữ niềm vui chiến thắng của nhân dân ta, những bức thư chúc mừng chiến thắng và cũng là nơi in ấn những bức điện chia buồn của các nước khi Bác ra đi. Rồi những tờ báo viết về các chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử những năm 1975, rồi những trận đánh trên vùng biên giới 1979,…

Nhìn những cuốn sách báo này, ông bảo có nhiều tư liệu quý vậy mà rất ít người đọc. “Những người bạn già thì bảo tôi dở hơi, lưu giữ những tờ báo này làm gì, còn những cô cậu bạn trẻ thì cũng không chú ý tới vì họ đâu cần mấy số báo này, có gì họ lên mạng là biết thôi”. Với nỗi buồn khi không mấy người có chú ý đến việc lưu giữ báo chí. Ông lật từng trang báo, từng trang sách, và ngẫm về văn hóa đọc của mọi lứa tuổi hiện nay, đặc biệt là mấy ông cán bộ địa phương. Nói theo cách của ông thì “các ông cán bộ có mấy người đọc báo, thậm chí cả dòng chữ to cũng không đọc ?”. Qua phân tích, ông chỉ ra rằng, sự phát triển của báo mạng khiến người ta lười cập nhật thông tin qua báo giấy. Đó cũng là điều tốt, song lại có mặt hạn chế của nó, cái hạn chế trước hết là độ tin cậy của thông tin, cái hạn chế thứ hai là làm cho người ta lười tư duy và ý thức đọc sách cũng mất đi.

Với những trải nghiệm của một người bước ra từ chiến trường, là cán bộ cấp cao của nhà nước và là một người có trong tay những tư liệu lịch sử, ông đang lập kế hoạch viết sách. Ông đang soạn thảo cuốn sách viết về sự thực, tội ác của đế quốc xâm lược đối với nhân dân Việt Nam. “Tôi đã chuẩn bị đầy đủ những tư liệu cần thiết, tôi đang bắt tay vào viết và sắp tới tôi sẽ cho ra mắt cuốn tư liệu tổng hợp đó. Chỉ mong sự thật được nêu ra để người ta biết quý trọng hòa bình hơn, biết giữ gìn và xây dựng đất nước hơn”. Còn trên phương diện là một nhà thơ, thì nhà thơ nhà báo Nguyễn Văn Huy nhận định: Thơ ông gần gũi, mạnh mẽ, khẳng định được lòng trung thành của ông đối với Đảng với nhân dân và nhiều bài thơ cũng lột tả được cảnh đẹp của non song đất nước.

Quan sát “kho tư liệu”, chúng tôi biết ông quý “khối tài sản” này lắm, dù rằng đã hơn già nửa thế kỉ nhưng dưới bàn tay của ông, những số báo vẫn còn khá nguyên vẹn. Với ông, việc lưu giữ những số báo này không chỉ là niềm đam mê mà còn là trách nhiệm, cũng vì vậy, ông rất mong thế hệ sau này có thói quen như vậy. Thời gian của buổi gặp mặt trôi đi thật nhanh, chúng tôi ra về cũng là lúc bóng tối buông xuống, chia tay ông chúng tôi nói với ông lời hẹn sẽ đến thăm ông để ông đưa lên phòng sách, để ông giới thiệu nhiều hơn nữa về những năm tháng thăng trầm của một người lính, một cán bộ với bao biến cố cuộc đời.

NGÔ MAI NGA

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *