Lý giải sự ế ẩm của cổ phần DNNN, những cảnh báo và bài học cá nhân chịu trách nhiệm

(Pháp lý) – Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các DNNN dừng đầu tư ra ngoài ngành, tính toán rút các khoản đã đầu tư ngoài ngành trước ngày 31/12/2015. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bài toán rút vốn của các DNNN không phải là chuyện đơn giản. Vậy việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các DNNN hiện nay đang vướng ở đâu? Cách tháo gỡ và đặt ra những cảnh báo gì nếu cố bán, bán rẻ cổ phần DNNN…? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với Thạc sỹ, Luật sư Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á.

 Tập đoàn Điện lực Việt Nam từng gây xôn xao dư luận khi giá thành bán điện còn bao gồm cả giá thành xây biệt thự, sân tennis…

Tập đoàn Điện lực Việt Nam từng gây xôn xao dư luận khi giá thành bán điện còn bao gồm cả giá thành xây biệt thự, sân tennis…

Lý giải sự ế ẩm của cổ phần DNNN và những cảnh báo

Phóng viên: Trước thực trạng “lỗ khủng”, làm ăn kém hiệu quả của các DNNN, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các DNNN dừng đầu tư ra ngoài ngành, tính toán rút các khoản đã đầu tư ngoài ngành trước ngày 31/12/2015. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bài toán rút vốn của các DNNN không phải là chuyện đơn giản. Theo nhận định của ông, liệu các DNNN sẽ hoàn thành được nhiệm vụ thoái vốn này hay không?

 Luật sư Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á

Luật sư Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á

Luật sư Trần Văn Hà: Tôi cho rằng dù từ giờ đến cuối năm 2015 chúng ta dốc hết sức để thoái vốn thì cũng không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ quá khó khăn này, mặc dù sau các chấn động Vinashin, Vinalines… năm 2012, 2013 Chính phủ đã nghiêm túc yêu cầu các DNNN thoái vốn đầu tư ngoài ngành và xúc tiến lại việc phi nhà nước hóa các cơ sở kinh doanh.

Thực tế cho thấy tiến trình rút vốn còn khá chậm, vì sao lại có chuyện như vậy, thưa ông?

Tựu chung lại, lý do thì có rất nhiều, trong đó có yếu tố thị trường không thuận lợi, mục tiêu đề ra là quá cao trong một khoảng thời gian gấp rút. Trong khi đó có quá nhiều doanh nghiệp cần phải thoái vốn.

Việc chậm trễ cũng có thể từ chính các DNNN đó, cụ thể là từ lãnh đạo của các DNNN hoặc từ “nhóm lợi ích” đứng sau DN đó. Điều này có lẽ rất phổ biến vì những người có lợi ích gắn với DN đó thói quen quản trị, điều hành cũ đã ngấm sâu vào máu. Nếu tiến hành thoái vốn thì chắc chắn thất thoát ngay và những sai phạm cũng dễ bị phanh phui. Vậy là họ không có lý do gì để phải gấp rút thoái vốn cả.

Vấn đề doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tôi cho rằng rất phức tạp trong bối cảnh hiện nay. Sau một quá trình kinh doanh không hiệu quả, gây tổn thất cho nền kinh tế, đến những năm 1990, Nhà nước đã có những nỗ lực khổng lồ trong việc tư nhân hóa các DNNN, buộc các DNNN phải tập trung hơn vào ngành nghề chính của mình. Và điều đó đã mang lại kết quả khả quan. Tuy nhiên, từ năm 2006, chúng ta lại có chính sách “ngược”, đó là cấp những khoản vốn khổng lồ cho các DNNN, với mục đích ban đầu là mong biến các DN này hùng mạnh. Tuy nhiên, kết quả gần như ngược lại, gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn. Giá trị duy nhất của những khoản đầu tư đó là giúp chúng ta nhận ra vấn đề không phải ở chỗ duy ý chí và không thể nào duy trì được hệ thống DNNN cồng kềnh và ngày càng phình to ra được nữa. Do vậy, tôi đồng ý với phương án Chính phủ yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước – DN mà nhà nước có đầu tư vốn và có giữ cổ phần chi phối tập trung vào ngành chính của mình. Theo tôi, có lẽ việc này phải thực hiện từ hơn 20 năm trước thì rất có thể hiện nay chúng ta có nhiều “cheabol” (các công ty khổng lồ theo như tiếng Hàn).

Việc rút vốn trong bối cảnh hiện nay đương nhiên là chậm. Thứ nhất, do khủng hoảng kinh tế. Trong 8 năm qua, nền kinh tế của Việt Nam và kinh tế thế giới phát triển chậm, việc đầu tư của các doanh nghiệp hạn chế. Nếu vào năm 2005, 2006, 2007 mà việc rút vốn của nhà nước được tiến hành nghiêm chỉnh thì chắc chắn các doanh nghiệp đó có nguồn vốn đầu tư dồi dào từ trong và ngoài nước, nhưng như chúng ta biết, việc đó đã không diễn ra. Thứ hai, các DNNN do làm ăn kém hiệu quả, để lại ấn tượng xấu nên không còn thu hút được sự quan tâm đầu tư nữa. Yếu tố tâm lý ở đây rất quan trọng, nó quyết định phần lớn việc họ có tham gia vào cuộc chơi hay không, và vì vậy ảnh hưởng trực tiếp tới tiến trình thoái vốn.

Hơn nữa, nếu nhà nước vẫn giữ tỉ lệ cổ phần chi phối thì không hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Vài năm gần đây có khá nhiều khách hàng là các tổ chức, cá nhân nước ngoài họ hỏi tôi về việc mua cổ phần của các doanh nghiệp mà nhà nước đang thoái vốn. Sau khi chúng tôi xác minh, thu thập thông tin và gửi họ thì họ quyết định nói “không” với việc đầu tư đó. Lý do là vì cơ chế quản lý chưa rõ ràng, tình hình tài chính chưa minh bạch. Và với tư cách là một nhà đầu tư, họ sẽ phải đặt quyết định của mình dưới áp lực của nhiều phía và nói không với tỉ lệ rủi ro quá cao.

Ngày 4/6 vừa qua, cuộc bán đấu giá cổ phần của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tại Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS) đã bị hủy bỏ do đến hết thời hạn mà không có ai tham dự. Như vậy, EVN vẫn tiếp tục sở hữu gần 11,5 triệu cổ phiếu ABS, tương ứng gần 29% vốn điều lệ công ty… Cá nhân ông nhìn nhận như thế nào về sự ế ẩm này?

Tôi cho rằng việc rao bán cổ phiếu mà không ai mua là câu chuyện rất phổ biến. Nhưng đối với các doanh nghiệp ở những ngành chủ chốt, được hưởng nhiều ưu đãi và có bề dày hoạt động mà bán cổ phiếu của mình sở hữu mà không ai mua thì nó chứng tỏ có điều bất ổn. Việc bán cổ phiếu do DNNN sở hữu với mục tiêu thoái vốn phụ thuộc vào cả người bán, người mua, cả thị trường và chính sách của nhà nước. Như tôi đã nêu ở phần trên, hiện nay thị trường chứng khoán nhìn chung không còn sôi động như cách đây gần chục năm nữa. Hơn nữa, việc chính phủ đặt ra chỉ tiêu trong một thời gian khá ngắn, cộng với số lượng quá nhiều DNNN cùng phải thoái vốn cùng lúc khiến lượng cung tăng cao. Chúng ta có thể thấy là cung lớn, cầu ít thì rõ ràng là việc bán cổ phiếu của EVN gặp khó khăn. Các nhà đầu tư họ mua cổ phiếu của ai thì cũng ước lượng độ rủi ro và khả năng sinh lãi trong ngắn hạn và dài hạn, để dựa vào đó họ có quyết định mua hay không.

Nói cách khác, việc đầu tư dàn trải, sở hữu chéo và “đá lộn sân” và sau đó thất bại là điều không thể tránh khỏi. Tôi còn nhớ vào năm 2007 đã có một báo cáo của trường Quản lý Công J.F.Kennedy thuộc Đại học Harvard với tiêu đề “Lựa chọn cho thành công” đã nêu khá rõ vấn đề này và họ đưa ra những khuyến nghị không nên khuyến khích sự phát triển của DNNN và không nên để các DNNN đầu tư dàn trải, sở hữu chéo và đầu tư trái ngành.

Việc ế ẩm này cũng cho chúng ta thấy việc sở hữu chéo trong các DNNN và các doanh nghiệp của tư nhân là rất phổ biến. Điều này là vô cùng tai hại và ảnh hưởng đến tính minh bạch, sự lành mạnh trong hoạt động gọi vốn của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sức mạnh của nền kinh tế. Hiện nay, trong môi trường kinh doanh hiện đại, khi mà hội nhập kinh tế quốc tế đã quá sâu rộng thì việc sở hữu chéo và đầu tư đa ngành là không thể chấp nhận được trong quan điểm của giới kinh doanh hiện đại ở các nước tiên tiến. Việc đầu tư đa ngành nghề chỉ có hiệu quả hồi những năm 1970 – 1990, còn sau đó thì việc đầu tư dàn trải đã chứng minh là kém hiệu quả, gây ra sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp lớn ở Hàn Quốc, Nhật, Mỹ…. Hiện nay, trong một thế giới chuyên môn hóa, muốn kinh doanh hiệu quả thì phải tập trung vốn, nguồn lực vào chuyên sâu một hai lĩnh vực nhất định thì mới có thể cạnh tranh và tồn tại được.

Theo ông, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các DNNN hiện nay đang vướng ở đâu? Đặt ra những cảnh báo nào nếu cố bán cổ phần DNNN? Cách tháo gỡ?

Theo tôi, quan trọng nhất là sự quyết tâm của các cấp lãnh đạo, những người thực sự mong muốn cải cách nền kinh tế. Nếu chúng ta cứ để các DNNN “sống mòn” như hiện nay sẽ là một cực hình đối với chính DN đó và là một gánh nặng cho nhà nước và cho xã hội, gây áp lực lên nền kinh tế quốc gia vốn đang phải oằn mình với đủ loại gánh nặng và nguy cơ.

Vướng mắc đầu tiên có lẽ là ở mục tiêu là cuối năm 2015 các DNNN sẽ phải thoái vốn rất nhiều với một số lượng vốn vô cùng lớn. Đặt trong bối cảnh nền kinh tế yếu kém như hiện nay thì rất khó thực hiện được. Vướng mắc lớn nhất, theo tôi chính là vấn đề về quản lý và “cơ chế” đặc thù của nước ta. Việc đầu tư ban đầu đã không được giám sát một cách chặt chẽ, tiếp theo là quá trình hoạt động kém hiệu quả khiến cho doanh nghiệp đó thua lỗ triền miên và không thu hút được các nhà đầu tư. Theo tôi, cách tháo gỡ hiện nay, vấn đề không phải nằm ở chỗ bán ngay số vốn đó mà phải bán như thế nào cho hợp lý. Chính phủ nên đặt mục tiêu trong khoảng 2 năm nữa cho các DNNN thoái vốn có trình tự và tránh việc thoái vốn đồng loạt cùng lúc.

Và cảnh báo đặt ra là: Nếu chúng ta cố bán thì rất có thể nhiều người sẽ lợi dụng việc này để bán rẻ các cổ phiếu đó, gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của nhà nước. Điều này đã từng xảy ra đối với nước Nga thời hậu Liên Xô.

Cần khẩn trương quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm người đứng đầu DNNN

Không chỉ riêng EVN đầu tư ngoài ngành thua lỗ nặng nề, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) mất 800 tỷ đồng trong vụ OceanBank mà còn có nhiều các “ông lớn” khác như: Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tập đoàn Cao su Việt Nam, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam… cũng đầu tư ngoài ngành và bị thua lỗ khủng. Điều này dẫn đến những hệ lụy gì cho nền kinh tế nói chung và ngân sách nhà nước nói riêng?

Theo tôi thì hậu quả của việc đầu tư dàn trải, trái ngành đã quá rõ ràng. Nó nguy hại với chính DNNN đó và tiếp theo là ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước và cả hệ thống nền kinh tế. Số vốn của mỗi doanh nghiệp là hữu hạn, do vậy nếu cứ đầu tư dàn trải thì đương nhiên khả năng quản lý của doanh nghiệp đó sẽ yếu kém và khả năng sinh lợi là rất thấp. Lấy ví dụ PVN với 800 tỷ đồng (40 triệu USD) bị bốc hơi, thì rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động. Nếu là doanh nghiệp bình thường thì chắc chắn đã phải đóng cửa. Và với PVN thì đó mới chỉ là một vụ thất thoát, rất có thể còn có những dự án đầu tư ngoài ngành lớn hơn mà kém hiệu quả. Mất vốn cho những dự án đầu tư vô lý như vậy thì những ngành chủ chốt của họ sẽ đương nhiên bị ảnh hưởng.

 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có nguy cơ mất trắng 800 tỷ đồng vì đầu tư vào ngân hàng Oceanbank

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có nguy cơ mất trắng 800 tỷ đồng vì đầu tư vào ngân hàng Oceanbank

Đặt trong bối cảnh của nền kinh tế quốc gia, khi các doanh nghiệp khác không có vốn để hoạt động, chấp nhận vay với lãi suất cắt cổ 15-20%/năm để hoạt động, thậm chí là không được vay vốn thì chúng ta thấy ở đây là một sự bất bình đẳng giữa DNNN với DN phi nhà nước, nó tạo ra một tâm lý không ưa DNNN. Uy tín của chính phủ, của các cơ quan nhà nước đương nhiên là sẽ bị ảnh hưởng. Với người dân, họ không quan tâm vấn đề chính sách, chủ trương có tốt hay không mà họ quan tâm đến hậu quả hay thành quả. Qua đó người dân, cử tri sẽ đánh giá hiệu quả phục vụ của các quan chức.

Một vấn đề nữa, theo tôi, sự thất bại của các DNNN trong những năm gần đây không chỉ là do đầu tư ngoài ngành. Nói cách khác, có muôn vàn lý do thuộc về bản chất như: vô trách nhiệm, tham nhũng, trình độ quản lý kém, bè phái, lợi ích nhóm… dẫn đến sự yếu kém của các DNNN. Và ngân sách nhà nước sẽ phải gánh chịu một phần hoặc toàn bộ những hậu quả tệ hại đó. Trong khi nợ công của chúng ta tăng cao, ngân sách chi cho phúc lợi công bị cắt giảm thì gánh nặng đó càng lớn hơn nhiều lần. Tôi nhận thấy một hiện tượng là nhiều DNNN có các công ty con, công ty cháu, công ty chắt… và thậm chí là chính người đứng đầu của Tổng công ty, Tập đoàn đó có khi cũng không nắm rõ hết các bộ phận, các công ty con do mình đứng đầu, như vậy thì quản lý hiệu quả thế nào được.

Trường hợp các DNNN không thoái vốn xong hoặc không thoái vốn được hay mất vốn (như PVN) thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Theo ông, có quy được trách nhiệm cá nhân cho việc mất vốn hay không? Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về vấn đề này? Có lỗ hổng hay khuyết thiếu không?

Vấn đề khi làm mất vốn thì có thể truy cứu được trách nhiệm, dù rất khó khăn nhưng không phải là không làm được. Xét ở khía cạnh pháp luật, tôi thấy trong quy định của Bộ luật Hình sự cũng có các quy định liên quan đến trách nhiệm của các cá nhân khi làm sai các quy định của nhà nước về công tác quản lý, sử dụng vốn. Hiện nay đã có Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ban hành ngày 05/2/2009 trong đó ban hành quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, tiếp theo đó là có Thông tư số 155/2009/TT-BTC, rồi Thông tư 242/2009/TT-BTC hướng dẫn kỹ hơn Nghị định 09/2009/NĐ-CP. Trong Nghị định này có quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc/Giám đốc của DNNN.

Chủ thể phải chịu trách nhiệm có thể sẽ là các lãnh đạo của các doanh nghiệp đó, đa phần là Giám đốc, Tổng Giám đốc, chủ tịch HĐQT. Cũng phải nhận thấy là việc đầu tư ngoài ngành đã từ rất lâu, do vậy nhiều công ty đã thay đổi nhiều “đời” lãnh đạo thì việc xem xét truy cứu trách nhiệm sẽ khó khăn và phức tạp hơn. Hiện nay trong Bộ luật Hình sự không quy định chi tiết cụ thể trách nhiệm đối với vấn đề vốn của doanh nghiệp mà hiện đang có điều luật quy định về tội Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS). Để xem xét, truy cứu trách nhiệm của những cá nhân làm sai, theo tôi có thể thực hiện một số công việc sau: Thứ nhất, là xem xét vấn đề đầu tư ra ngoài ngành, ngành đó, doanh nghiệp đó có được phép đầu tư trái ngành hay không. Trong trường hợp họ được phép đầu tư thì xem xét thủ tục lập dự án đầu tư, các quy định về kế toán kiểm toán có minh bạch, chính xác hay không. Trong quá trình đầu tư có các dấu hiệu tư lợi cá nhân hay không…?  Nếu các cơ quan thanh tra, điều tra làm chi tiết, cụ thể thì các sai phạm có thể phát hiện trong khâu này. Thứ hai, xem xét quá trình thoái vốn có đúng quy định, quy trình hay không, việc chậm thoái vốn hay thoái vốn mà làm mất vốn có tư lợi cá nhân, có các hành vi cố ý làm trái hay không. Hiện nay có quyết định số 51/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thoái vốn của DNNN. Nếu việc thoái vốn không đúng quy định gây mất vốn, thất thoát tài sản của nhà nước thì có thể căn cứ trên đó để xử lý.

Cũng cần phải nói thêm rằng việc quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của những lãnh đạo trong các DNNN như hiện hành vẫn còn chưa rõ. Theo tôi, chúng ta nên học theo các quy định của Singapore về vấn đề quản lý DNNN. Đây là nước quản lý trong lĩnh vực này thành công và rất hiệu quả.

Theo hiểu biết của Phóng viên thì trong Bộ luật Hình sự, tội tham ô, tham nhũng thì người phạm tội ngoài chịu hình phạt tù, còn phải bồi thường thiệt hại cho nhà nước, tuy nhiên, tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng thì chưa thấy đặt ra vấn đề bồi thường. Qua những vụ việc đã xảy ra thời gian qua, thì theo ông chúng ta có nên sửa đổi về quy định này không và sửa như thế nào?

Vâng, đúng là trong các quy định của BLHS hiện hành thì không thấy có vấn đề bồi thường thiệt hại phát sinh khi người có trách nhiệm trong DNNN thực hiện hành vi sai trái và gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước khi họ có hành vi phạm tội đó. Đối với vấn đề bồi thường thì trong Nghị định số 09/2009/NĐ-CP cũng đã có nêu ra các biện pháp để xử lý tổn thất tài sản, trong đó có cả việc bồi thường thiệt hại phát sinh trong quá trình hoạt động của DNNN. Ngoài ra các quy định của luật Dân sự và quy định trong luật Lao động cũng có những điều khoản về bồi thường thiệt hại và hoàn toàn có thể áp dụng để yêu cầu các cá nhân, những người quản lý nếu gây thiệt hại cho doanh nghiệp đó phải bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại. Tôi nghĩ rằng các quy định về việc bồi thường thiệt hại có thể vận dụng được, có chăng là việc chứng minh thiệt hại, chứng minh mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp luật là vô cùng khó để yêu cầu các chủ thể có hành vi gây thiệt hại đó phải bồi thường. Cũng phải nói thêm rằng có các quy định về bồi thường là một chuyện, còn việc xử lý và truy thu được tài sản bị tổn thất đã là một điều cực kỳ khó, còn việc đòi bồi thường thiệt hại thì lại là một câu chuyện càng nan giải hơn nữa.

Ở đây nó còn liên quan đến câu chuyện tâm lý của các nước phương Đông nói chung, đó là tâm lý “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, đặt trong tình huống là lãnh đạo các DNNN vừa có quyền, có tiền mà trách nhiệm thì khó truy cứu, nhiều cán bộ quản lý đã ra sức thu vén tài sản công thành tài sản của mình và nếu không may có chuyện xảy ra thì họ tẩu tán tài sản và trốn ra nước ngoài. Qua nghiên cứu, tôi thấy là ở nhiều quốc gia, họ có quy định chịu phạt tiền để đổi lại việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn. Nếu có thể, chúng ta nên xem xét vấn đề này và có thể áp dụng để buộc những cá nhân có hành vi vi phạm và gây thiệt hại chủ động bồi thường hoặc nộp phạt bằng tài sản của mình và nhà nước sẽ cho hưởng mức hình phạt nhẹ hơn.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hòa Bình (thực hiện)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *