Luật Trưng cầu ý dân: Yêu cầu cần thiết của cuộc sống

(Pháp lý) – Phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp, việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân được xác định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Cụ thể, Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Cần có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp”. Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, chỉ rõ: “Mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, ban hành Luật về trưng cầu ý dân”.

Được Quốc hội giao trách nhiệm soạn thảo Dự án Luật Trưng cầu ý dân, thời gian qua, HLGVN đã và đang nỗ lực hết mình, triển khai nhiều hoạt động cần thiết để xây dựng dự án luật, bảo đảm đúng quy trình và chất lượng để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Yêu cầu cần thiết của cuộc sống

Để soạn thảo dự luật Trưng cầu ý dân, HLGVN đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học (Trong ảnh là hội thảo “Luật Trưng cầu ý dân – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”)
Để soạn thảo dự luật Trưng cầu ý dân, HLGVN đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học (Trong ảnh là hội thảo “Luật Trưng cầu ý dân – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”)

Hiến pháp 1946 và các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 đều có quy định về trưng cầu ý dân. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 quy định về trưng cầu ý dân tại Điều 29, khoản 15 Điều 70, khoản 13 Điều 74, khoản 4 Điều 120 đồng thời quy định về quyền dân chủ trực tiếp tại khoản 1 Điều 2 và Điều 6, Điều 29. Trong đó xác định rõ “Nhân dân có quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Như vậy, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là cần thiết thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc là một trong những tư tưởng được thể hiện rõ trong truyền thống quý báu của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong những năm vừa qua, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được phổ biến và thực hiện ngày càng rộng rãi trong cuộc sống. Xây dựng Luật Trưng cầu ý dân góp phần thiết thực vào việc phản ánh và phát huy giá trị tư tưởng và truyền thống đó, tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực, đông đảo và quyết định vào các công việc của Nhà nước và xã hội. Điều đó còn phù hợp với bản chất dân chủ XHCN, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trưng cầu ý dân là một phương thức để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm cụ thể. Thực tiễn đã cho thấy, từ khi thành lập nước đến nay, nhất là từ sau năm 1976, sau khi đất nước thống nhất về mọi mặt, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật trước khi ban hành đã được triển khai; việc tham vấn chuyên gia và thực hiện phản biện xã hội cũng đã được mở rộng; việc công khai các dự thảo văn bản luật và chính sách được coi là nguyên tắc ban hành văn bản QPPL và hoạch định chính sách. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, kết quả của hoạt động lấy ý kiến nhân dân, để nhân dân quyết định trực tiếp đối với những vấn đề trọng đại về quốc kế dân sinh cũng còn rất nhiều hạn chế, một trong những nguyên nhân là cho đến nay nước ta vẫn chưa có thể chế pháp lý rõ ràng về trưng cầu ý dân, mặc dù trưng cầu ý dân luôn là một quy định pháp lý hiến định. Việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là cần thiết, để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu khách quan trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Trưng cầu ý dân đã được thừa nhận rộng rãi như là một trong những giá trị của dân chủ trực tiếp trong xã hội và rất nhiều nước đã ban hành Luật Trưng cầu ý dân để điều chỉnh các mối quan hệ về trưng cầu ý dân. Cho đến nay, đã có 167/214 (chiếm khoảng 78%) quốc gia và vùng lãnh thổ có luật hoặc các quy định pháp lý về trưng cầu ý dân. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế và chính trị với các nước trong khu vực và trên thế giới, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là cần thiết, tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể những vấn đề quan trọng của đất nước công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân

Xuất phát từ yêu cầu pháp lý và yêu cầu thực tiễn, Luật Trưng cầu ý dân phải thể chế hóa các quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; về phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường đoàn kết và đồng thuận xã hội, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia rộng rãi, trực tiếp vào những vấn đề trọng đại của đất nước thông qua các cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội làm việc với HLGVN về dự án luật Trưng cầu ý dân.(Trong ảnh: Đồng chí Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch HLGVN đang báo cáo về Dự án Luật)
Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội làm việc với HLGVN về dự án luật Trưng cầu ý dân.(Trong ảnh: Đồng chí Nguyễn Văn Quyền, Chủ tịch HLGVN đang báo cáo về Dự án Luật)

Nội dung của Luật Trưng cầu ý dân phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các luật có liên quan, góp phần đảm bảo tính thống nhất, tiến bộ của hệ thống pháp luật.

Việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân phải đảm bảo cơ sở thực tiễn, các quy định của Luật Trưng cầu ý dân phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, phản ánh đúng điều kiện chính trị,kinh tế, văn hóa xã hội của Việt Nam hiện nay và phải tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành của Luật.

Luật Trưng cầu ý dân phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển các kết quả của công tác xây dựng pháp luật của nước ta qua các thời kì, đồng thời nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm của các nước trên thế giới về xây dựng và thực hiện pháp luật về trưng cầu ý dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

HLGVN tích cực xúc tiến các hoạt động cần thiết xây dựng dự án Luật

Để triển khai xây dựng Dự án Luật quan trọng này, HLGVN đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập, ban hành kế hoạch xây dựng dự án Luật Trưng cầu ý dân, tổ chức ba cuộc họp Ban soạn thảo; tổ chức 04 cuộc họp hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, cụ thể: Hội thảo khoa học “Luật Trưng cầu ý dân – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hội thảo khoa học “Những vấn đề cơ bản về Luật Trưng cầu ý dân” tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; Hội thảo quốc tế với chủ đề “Luật Trưng cầu ý dân của một số nước – kinh nghiệm cho Việt Nam”; tổ chức khảo sát ý kiến một số vấn đề trưng cầu ý dân tại 63 tỉnh/thành phổ trực thuộc Trung ương; tổ chức khảo sát kinh nghiệm thực tế tại Thái Lan; tổ chức nghiên cứu tổng quan về pháp luật trưng cầu ý dân ở các nước trên thế giới; tổ chức nghiên cứu về các quy định hiện hành về trưng cầu ý dân trong hệ thống pháp luật Việt Nam; tập hợp các tài liệu nghiên cứu về luật trưng cầu ý dân trong và ngoài nước, kết quả của nghiên cứu luật Trưng cầu ý dân giai đoạn 200 – 2006; biên dịch luật Trưng cầu ý dân của 11 quốc gia trên thế giới gồm: Nga, Estonia, Ireland, Latvia, Bangladesh, Myanmar, Philippine, Úc, Thái Lan, Montenegro; các tài liệu tham khảo về trưng cầu ý dân của Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan; tổ chức nghiên cứu, rà soát các luật có liên quan như Luật Bầu cử, Luật Tổ chức Quốc hội…

Được biết hiện nay, Dự án Luật Trưng cầu ý dân đã được HLGVN báo cáo và đang được Ủy ban thường vụ Quốc hội thẩm định.

Huyền Phan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *