Loạt dự án thép tỷ đô chết yểu:Hệ quả xin thì… gật

Sự háo hức về thành tích của các địa phương vẫn còn ghê gớm, không phải dễ gì mà doanh nghiệp nào cũng xin được giấy phép đầu tư.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan chia sẻ những ý kiến tâm huyết của mình với Đất Việt trước tình trạng nhiều dự án thép lớn đã hoặc đang có nguy cơ bị “khai tử”.

PV: – Liên tiếp các dự án thép lớn đã hoặc có nguy cơ bị rút giấy phép đầu tư như dự án Nhà máy Liên hợp gang thép Vạn Lợi ở KKT Vũng Áng; dự án thép Quảng Liên ở KKT Dung Quất. Theo bà, liệu đây có phải là hệ quả của việc bội thực các dự án thép hay còn vì lý do nào khác? Xin bà phân tích cụ thể.

Bà Phạm Chi Lan:-Thị trường thép Việt Nam cung đã vượt cầu quá nhiều, thêm vào đó là yếu tố mở cửa thị trường với các cam kết hội nhập làm cho sản xuất thép ở Việt Nam càng gặp khó hơn, khó cạnh tranh với bên ngoài, dẫn đến tình trạng thừa là dễ hiểu.

Thứ hai, ở Việt Nam, thép có loại thiếu, loại thừa, dòng bị thừa nhiều là dòng thép xây dựng, chất lượng không cao, còn những doanh nghiệp làm các mảng khác của thép, hoặc cũng làm thép xây dựng nhưng chất lượng cao vẫn sống được. Cái chính ở đây là tuỳ theo dòng thép, công nghệ và kết quả sản phẩm ra sao.

Các công trình xây dựng Việt Nam ngày càng ‘khôn’ hơn, biết dùng sản phẩm đầu vào tốt để đảm bảo chất lượng của công trình. Một số dự án làm gian dối rồi cũng bị phanh phui sớm và những doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu dởm khiến công trình bị tai tiếng sớm muộn cũng không còn cơ hội để tồn tại. Điều này dẫn đến yêu cầu về chất lượng sản phẩm tăng lên, doanh nghiệp nào không có hướng đầu tư đảm bảo chất lượng phải ngưng hoạt động là điều dễ hiểu.

 Sau 10 năm động thổ, siêu dự án thép Quảng Liên vẫn là bãi đất hoang chăn thả bò ở Khu kinh tế Dung Quất. Ảnh: VnExpress

Sau 10 năm động thổ, siêu dự án thép Quảng Liên vẫn là bãi đất hoang chăn thả bò ở Khu kinh tế Dung Quất. Ảnh: VnExpress

Trước đây, Việt Nam đã cho đầu tư quá nhiều, kể cả các nhà đầu tư cũng tính toán không đúng về nhu cầu của thị trường Việt Nam. Đơn cử ngành xây dựng trong thời kỳ bong bóng bất động sản lên cao, thép, xi măng, kính, gạch men… đều bị thổi phồng về nhu cầu làm cho các doanh nghiệp đầu tư vào vật tư phục vụ cho ngành xây dựng cũng bị lây.

Nhu cầu về hạ tầng cũng vậy, đã đành là có nhưng phải xem nhu cầu có khả năng thực hiện hay không, tạo được cung ứng và có khả năng thanh toán hay không. Ở Việt Nam, nhu cầu đó còn chênh rất nhiều giữa cái cần có và cái có khả năng làm được để cung ứng cho xã hội. Thế nên tính toán của các nhà đầu tư nhiều khi bị dẫn dắt bởi những thông tin sai, quy hoạch vống lên.

Những người làm quy hoạch có động lực để vống lên, làm như vậy Nhà nước sẽ đổ tiền, đổ của nhiều hơn hoặc ưu đãi nhiều hơn cho các dự án của mình nhưng rồi chính họ cũng lại là người hứng chịu hậu quả khi ngành đó trở thành dư thừa.

Các địa phương muốn hay không cũng buộc phải rà soát lại các dự án, cái nào không thể làm được thì phải rút giấy phép, không có lý do gì giữ lại những mảnh đất, những ưu đãi cho nhà đầu tư đó mà họ không thực hiện, gây tổn thất cho xã hội, cho địa phương, nhất là người dân, những người mất đất cho dự án mà dự án không triển khai được.

Một đằng dân không có đất sản xuất, doanh nghiệp khó khăn, một đằng doanh nghiệp để dự án treo gây lãng phí rất lớn, chưa kể doanh nghiệp nào đã trót đầu tư một phần. Không chỉ doanh nghiệp mất mà nguồn vốn nhất định của xã hội cũng bị mất theo, nguồn vốn đổ vào bị đọng lại, gây ra tổn thất thì việc rút giấy phép các dự án là đúng.

PV: – Có ý kiến cho rằng, việc các dự án cấp phép không thể triển khai, gây thiệt hại không nhỏ cho địa phương (đầu tư hạ tầng đường sá, mất cơ hội phát triển…) là do phía Việt Nam đã quá dễ dãi trong việc cấp phép đầu tư. Bà đồng tình ở mức độ nào với nhận định trên? Nguyên nhân của tình trạng này là do đâu: năng lực thẩm định, nạn tham nhũng, cuộc đua thành tích GDP hay lý do nào khác?

Bà Phạm Chi Lan: – Tôi đồng tình với ý kiến này bởi trong thời gian qua, Nhà nước để cho các địa phương được quyền chủ động cấp phép đầu tư rất nhiều mà không có quy hoạch tổng thể chung của cả nước được thực hiện nghiêm khắc. Cũng có những ngành, lĩnh vực có quy hoạch phát triển nhưng quy hoạch đó bị phá vỡ rất dễ dàng.

Ví dụ, quy hoạch ở tỉnh A, tỉnh B không có dự án thép nhưng khi doanh nghiệp muốn làm ở đó thì địa phương lại ủng hộ cho doanh nghiệp làm để được tiếng là có dự án to. Địa phương, doanh nghiệp xin thì Trung ương lại “gật”.

Hiệp hội Thép đã hiều lầm cho rằng Nhà nước cấp quá nhiều dự án thép nhưng tiếng nói của Hiệp hội có bao giờ được coi trọng?!

PV: – Không thể chối bỏ hậu quả của những dự án treo tới kinh tế các địa phương nhưng từ trước tới nay, chưa có một đo đếm cụ thể về thiệt hại cũng như chưa có ai đứng ra chịu trách nhiệm trước vấn đề này. Thưa bà, đây có phải là nguyên nhân khiến chúng ta chưa xử lý trách nhiệm người đứng đầu địa phương để xảy ra dự án treo hay không? Nếu xử lý không nghiêm, liệu có thể chấm dứt tình trạng này được không?

Bà Phạm Chi Lan:- Với cơ chế ở Việt Nam hiện nay rất khó có thể xử lý được ai phải chịu trách nhiệm về các dự án treo, những quyết định sai lầm như vậy vì những quyết định này liên quan đến nhiều người, nhiều cơ quan, địa phương. Người ta có thể dễ dàng nói rằng đây là doanh nghiệp muốn đến đầu tư, dự án này thuộc quy mô lớn phải xin ý kiến của TƯ và họ đã gửi công văn xin ý kiến các bộ, ngành liên quan. Vả lại, tôi cũng tin rằng, đối với những dự án tầm cỡ như vậy thì họ cũng phải xin ý kiến chứ không phải hoàn toàn họ chủ động quyết định được.

Vẫn có một quan điểm khác cho rằng, khi doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư thì cứ để cho người ta đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư, đầu tư không được, không thành công, lỗ lãi tự họ chịu, họ không bán được hàng ở Việt Nam thì phải lo xuất khẩu… Đó cũng là một kiểu lập luận để đổ hết trách nhiệm về phía nhà đầu tư.

Tâm lý chung của các địa phương, sự háo hức về thành tích vẫn còn rất ghê gớm mà có nhiều dấu hỏi đằng sau chuyện thành tích đó còn có cái gì? Cái này không có bằng chứng để nói nhưng chắc chắc không phải doanh nghiệp nào cũng dễ dàng xin được dự án, giấy phép đầu tư như vậy.

Nếu xử lý không nghiêm thì không thể nào chấm dứt được dự án treo, dự án không mang lại cái gì, thậm chí gây mất mát cho doanh nghiệp, xã hội, cho người dân ở địa phương đó.

Bao nhiêu năm trời đất của người dân bị Nhà nước giúp nhà đầu tư thu hồi lại rồi bỏ đấy trong khi họ dù được đền bù một phần nhưng đâu có cơ hội để sử dụng tốt khoản tiền đền bù đó, nhất là cơ hội việc làm lâu dài để sinh sống đâu phải dễ dàng có được. Chưa kể có những đền bù còn gắn với lời hứa sau này sẽ tạo việc làm cho người dân hoặc đưa vào làm việc trong nhà máy, nhưng nhà máy có bao giờ hình thành đâu mà người dân có việc làm?

PV: – Thưa bà, thời gian gần đây, chúng ta liên tiếp ghi nhận tình trạng dự án treo, khu kinh tế bỏ hoang… Thực trạng này có phải là một lời cảnh báo cho tư duy chạy theo dự án của nhiều địa phương hay không, cụ thể thế nào?

Bà Phạm Chi Lan: – Tôi cho rằng ở đây là cảnh báo cho tư duy chạy theo thành tích hoặc hám lợi được hứa hẹn theo kiểu nói ở trên và vung vãi tài nguyên của đất nước, kể cả đất đai, cơ hội kinh doanh. Nó không phải chỉ là lỗi của địa phương bởi đây là chủ trương để các địa phương làm như vậy.

Có những lời cổ động các địa phương phải cố gắng tăng tỷ lệ công nghiệp hoá, thành ra có một phong trào ai thu hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài thì được hoan nghênh hoặc có cơ hội thăng tiến nhiều hơn… Điều đó có thể đẩy người ta vì nhiều lý do mà chạy theo những thành tích kiểu như vậy.

Đây là cả một trào lưu chung và lâu nay những biểu dương thành tích của địa phương nhiều khi căn cứ trên việc anh nào cấp được nhiều giấy phép đầu tư, có nhiều doanh nghiệp đầu tư… thì được coi là tỉnh thu hút đầu tư tốt, không cần biết dự án có hoạt động hay không, hiệu quả của dự án như thế nào.

Thông thường, cái chuẩn để quốc tế đánh giá là dựa vào kết quả thực hiện, còn Việt Nam nhiều khi chẳng cần đợi kết quả đã đánh giá, đã biểu dương, thậm chí đã cho người ta thăng tiến… nên nó đẩy đến tình trạng trên. Các địa phương phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của những người quyết định cho họ.

PV: – Trong bối cảnh này, liệu có cần một cuộc đại phẫu các khu kinh tế, loại bỏ những dự án trên mây và tìm phương cách sử dụng tài nguyên đất nước một cách hiệu quả hơn không và vì sao?

Bà Phạm Chi Lan: – Cái này đã có trong nghị quyết tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công. Bản thân khái niệm trong mấy lĩnh vực về tái cơ cấu của giai đoạn này ở 3 lĩnh vực là tài chính – trọng tâm là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp – trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước, đầu tư- trọng tâm là đầu tư công thì nó đã bao hàm rồi.

Về phía lãnh đạo cũng đã thấy vấn đề, đã đề ra phải thay đổi, phải tái cơ cấu. Nhưng đề ra là một chuyện còn thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Từ Đại hội 11 đến giờ đã hơn 4 năm rưỡi trôi qua và tình trạng đầu tư tràn lan, dàn trải, lãng phí tài lực của đất nước vẫn tiếp diễn.

Trong chương trình tái cơ cấu tổng thể, xét về góc độ các địa phương đã đặt vấn đề phải xây dựng lại quy hoạch phát triển theo vùng, ngành chứ không phải theo từng tỉnh. Nếu phát triển theo vùng có thể thấy rõ trong một vùng với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội… nhất định thì chỉ nên có bao nhiêu dự án cùng loại. Không phải như Hà Tĩnh có tới một lô dự án thép đổ dồn vào trong khi một mỏ sắt Thạch Khê không hoàn toàn có khả năng khai thác thương mại, đem lại hiệu quả cao, đấy đã là cái chết được báo trước hay sao?

Với cách tiếp cận theo vùng sẽ thấy rộng hơn vấn đề phải làm cho chặt chẽ chứ không phải các tỉnh đua nhau làm theo kiểu phong trào. Đã đưa ra quy hoạch, tính toán lại thì phải nghiêm, chứ không phải quy hoạch chỉ đưa ra trên giấy, đến lúc ai xin thì lại cho vượt quy hoạch, như vậy quy hoạch không còn thiêng nữa.

Quy hoạch phải thành luật, đã đưa ra thì chắc chắn phải thi hành và nếu thay đổi thì cấp có thẩm quyền thay đổi phải là cấp rất cao và dựa trên tất cả những bằng chứng, lập luận, phân tích nghiên cứu thấu đáo chứ không phải cứ một tỉnh, một doanh nghiệp xin thì lại được, ai cũng có thể phá quy hoạch được.

Ngoài ra phải quy định trách nhiệm. Đối với những quyết định đầu tư sai, gây tổn thất, dù chỉ là tổn thất cho doanh nghiệp thì nơi đó cũng phải chịu trách nhiệm, người quyết định đầu tư chính vẫn phải chịu trách nhiệm.

Hãy quy trách nhiệm cá nhân, phân cấp cho rõ ràng là dự án này giao cho địa phương được quyền quyết định thì địa phương chịu trách nhiệm hoàn toàn, nếu địa phương tham vấn thêm của bộ A, B, C thì ba bộ đó phải cùng chịu trách nhiệm với địa phương. Còn bây giờ cứ theo kiểu qyết định tập thể, trách nhiệm tập thể thì cuối cùng chỉ có cộng đồng lớn nhất là người dân chịu thua thiệt.

Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA):

Những dự án có thể bị thu hồi giấy phép như gang thép Vạn Lợi ở Hà Tĩnh, Quảng Liên ở Quảng Ngãi là những dự án đã chậm đầu tư từ lâu, đến bây giờ đã lộ rõ và không thể che đậy được nữa. Trong kinh tế thị trường có những dự án đầu tư đúng, cũng có những dự án đầu tư sai dẫn đến những hậu quả không vui thế này cũng là điều bình thường.

Trong thời gian qua, phát triển kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn cho nên nhiều khi các địa phương trải thảm đỏ để đón các nhà đầu tư vô điều kiện, việc xét duyệt không được kỹ càng, dẫn đến kết quả không được tốt như hiện nay.

Nguyên nhân thì có nhiều. Về mặt các cơ quan quản lý nhà nước phải quản lý theo quy hoạch, cho nên việc bám sát quy hoạch để xây dựng các dự án vừa rồi khi phân cấp cho các địa phương cũng có những vấn đề. Thứ hai, trình độ thẩm định dự án của các địa phương nhiều khi không đủ năng lực nên đã bỏ qua một số yêu cầu bắt buộc của các dự án đầu tư đó, nhất là vấn đề về năng lực công nghệ và năng lực tài chính.

Để giảm thiểu những tình trạng đáng tiếc này, phải bám sát quy hoạch, quản lý theo quy hoạch và nâng cao năng lực thẩm định của các cơ quan ở TƯ cũng như địa phương.

Qua các trường hợp này, các ngành, các cấp, các khu kinh tế đều rút được bài học cho mình cho nên họ sẽ rà soát lại, bản thân Hiệp hội Thép cũng sẽ tiếp tục có các kiến nghị để rà soát lại một dự án thép sau quy hoạch mà năng lực thực hiện không lớn lắm.

Theo Bao Datviet

 

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *