Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới… | Pháp lý Online

Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới…

Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới…

Kỳ 2: Thực tiễn quản lý kinh tế Nhà nước ở Việt Nam

Quá trình Đổi mới nói chung, và sử dụng ‘Bàn tay Nhà nước » trong quản lý phát triển KT-XH của Việt Nam nói riêng, dù muốn hay không, ít hoặc nhiều, trực tiếp và gián tiếp, trước mắt hoặc lâu dài đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng của những xu hướng phát triển và tư duy mới về vai trò Nhà nước mang tính toàn cầu chung…Thực tế cho thấy, « Bàn tay Nhà nước Việt Nam » về cơ bản đã đón nhận và bắt nhịp được với các xu thế chung của thế giới, nhờ đó đã góp phần chèo lái đúng hướng và vững vàng con thuyền kinh tế Việt Nam vượt bao thác ghềnh, khó khăn và thách thức to lớn, chưa có tiền lệ trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, để ngày càng củng cố thế và lực trên hành trình vươn ra đại dương, hội nhập cùng bạn bè năm châu, bốn biển …

11.112 Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới...

Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong

Bàn tay Nhà nước Việt Nam thường bộc lộ tập trung và có thêm cơ hội hoàn thiện hơn khi xảy ra các chấn động kinh tế-tài chính mạnh trong và ngoài nước, như những năm 1986-1992, 1997-2000 và  những năm 2007-2008. Khi đó, Việt Nam đã phát huy sức mạnh tích cực của toàn bộ hệ thống chính trị để xử lý các nguyên nhân và hậu quả của lạm phát cao hoặc các biến cố thị trường bộc phát, giữ vững sự ổn định chung của đời sống KT-XH đất nước. Đặc biệt, lần đầu tiên, năm 2008 chính phủ đã dũng cảm nhận thức lại mục tiêu và yêu cầu quản lý Nhà nước khi chủ động khẳng định ưu tiên trước mắt là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, kể cả phải giảm bớt tốc độ tăng trưởng GDP, thu hẹp đầu tư công… Từ đó, đã có sự chỉ đạo tập trung, nhất quán hơn và sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cấp, ngành và địa phương, sử dụng đồng bộ và linh hoạt hơn các giải pháp hành chính và thị trường theo hướng toàn diện, “sốc “ và đúng đắn hơn…Nhờ vậy, từ nửa cuối năm 2008, áp lực lạm phát, thâm hụt thương mại và thanh toán đã có dấu hiệu giảm bớt, dự trữ ngoại tệ được bảo tồn và tăng thêm, thị trường nội tệ và ngoại tệ đã có sự ổn định trở lại, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản có sự phục hồi dần, sự mở rộng các mặt hàng xuất khẩu là rất ấn tượng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp) rất khả quan, động lực và  uy tín  “thương hiệu Việt Nam” đang ngày càng  được củng cố trong sự nhìn nhận và lựa chọn của thế giới; …Đặc biệt, ông A-lanh Grin-xpen-nguyên Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, người được mệnh danh là “thầy phù thủy của kinh tế Mỹ”-cho rằng: Chính phủ Việt Nam đã đi đúng hướng trong việc áp dụng 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (theo đó tập trung vào: Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, nhưng linh hoạt trong điều hành để bảo đảm yêu cầu thanh khoản của nền kinh tế, bảo đảm vốn cho sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; Tập trung xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; Đẩy mạnh xuất khẩu, quản lý chặt chẽ nhập khẩu để giảm nhập siêu; Rà soát, điều chỉnh đầu tư, tập trung vốn cho các dự án, công trình có hiệu quả, các công trình sắp hoàn thành, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án, công trình đầu tư từ nguồn vốn nhà nước, nhất là các dự án, công trình lớn, tạo đà tăng trưởng cho các năm sau, tiết kiệm 10% chi thường xuyên; Tăng cường quản lý thị trường, giá cả, thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp nhằm ổn định giá, chống đầu cơ, buôn lậu; bảo đảm cân đối cung cầu các hàng hoá thiết yếu cho sản xuất và đời sống nhân dân, không để thiếu hàng cục bộ, điều hành giá xăng dầu theo hướng tiếp cận cơ chế thị trường; Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội đã ban hành, đồng thời, chuẩn bị ban hành các chính sách mới, góp phần ổn định sản xuất và đời sống của người dân; Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc hiện nay; Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền để xây dựng niềm tin của nhân dân, tránh đưa những thông tin bất lợi, tạo dư luận xấu, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân).

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, cả về nhận thức, chính sách, thể chế và phương thức tổ chức hoạt động của « bàn tay Nhà nước » ở Việt Nam vẫn còn một số phức tạp, bất cập do sự đan xen giữa cái mới chưa được luận giải, khẳng định và hình thành đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, với cái cái cũ vẫn đang tồn tại, hoặc chưa được đổi mới kịp thời, thích hợp. Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế chưa thật rõ ràng, chậm đổi mới. Nội dung, phương thức, mức độ quản lý nhà nước đối với các khu vực kinh tế còn chưa thống nhất và chưa thật hiệu quả ; còn nhiều bất cập trong phân cấp và phối hợp quản lý Nhà nước. Việc tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng kinh doanh của doanh nghiệp còn chậm. Một số chủ trương, chính sách chưa được thể chế hóa bằng các kế hoạch, cơ chế, trách nhiệm triển khai cụ thể, kịp thời, hiệu quả . Công tác thông tin, dự báo kinh tế và quản lý chất lượng phát triển theo hướng bền vững còn lúng túng và bị buông lỏng. Nhiều tiềm năng và nguồn lực cần thiết cho phát triển còn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả do nhiều định kiến nhận thức, rào cản thể chế và chất lượng cán bộ…

11.29 410x308 Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới...

Vấn đề quản lý kinh tế Nhà nước trên nhiều phương diện còn bộc lộ khá nhiều hạn chế

Để nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với quá trình phát triển KT-XH ở nước ta, vượt qua các cuộc khủng hoảng trong một thế giới đang biến đổi toàn diện và nhanh chóng, « Liệu pháp bàn tay Nhà nước »  ở Việt Nam cần được hoàn thiện theo một số phương hướng và nội dung trọng tâm sau :

1.  Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về một số vấn đề lớn và mới trong chủ trương phát triển và quản lý Nhà nước.

Nhận thức là một quá trình, cần dũng cảm gạt bỏ những định kiến, ảo tưởng về quyền lực Nhà nước và sự lạm dụng cơ chế xin – cho, những lợi ích cục bộ, ngắn hạn của “tư duy nhiệm kỳ”; tôn trọng các sáng tạo, đề xuất hợp lý của cơ sở, cấp dưới; xây dựng và thống nhất hệ giá trị chuẩn chung quốc gia, cả về chính trị, kinh tế, xã hội, đảm bảo tất cả chính sách, tất cả những gì chúng ta phân biệt đúng- sai phải theo chuẩn mực chung, tránh bị ngộ nhận hoặc bị nhiễu về chân giá trị (với các hợp phần tinh tú nhất từ các giá trị nhân văn to lớn của lý tưởng XHCN, của giá trị ngàn năm văn hiến của dân tộc và của nhân loại, cũng như của các giá trị thị trường), tạo tiêu đích và thước đo tin cậy trong định hướng, đánh giá các hoạt động kinh tế – xã hội, để tăng cường lòng tin và sự đồng thuận xã hội rộng rãi trong nước và quốc tế, kể cả với Việt Kiều.

Đồng thời đổi mới căn bản công tác cán bộ và coi trọng đúng mức việc xây dựng các thiết chế đủ hiệu lực bảo vệ lợi ích và phát huy sức mạnh chung quốc gia, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của quốc gia, của các địa phương, trong nước và quốc tế cho phát triển bền vững đất nước.

Đặc biệt, một chính sách tài chính-tiền tệ thận trọng (không quá lỏng, không quá chặt) luôn là cần thiết trong thực tế Việt Nam ; Tiếp tục hạn chế và nâng cao hiệu quả đầu tư công, đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước; chủ động tiếp cận, tham gia, duy trì, khai thác sử dụng đúng lúc và hiệu quả các cơ chế giám sát an toàn tài chính quốc gia, khu vực và quốc tế; chuyển mạnh chính sách bảo hộ theo hướng  khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ  và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, theo cả phương thức  tuần tự, cũng như theo các cách thức mới, nhẩy vọt, rút ngắn; khuyến khích phát triển các tập đoàn kinh tế đa sở hữu, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, hoạt động xuyên quốc gia, tạo nguồn động lực mạnh và mũi chủ công, đột phá trong quá trình phát triển và hội nhập KTQT.

2.  Tôn trọng yêu cầu khách quan của các quy luật và quy trình quản lý kinh tế, các cam kết hội nhập và sự hài hoà các lợi ích phát triển, không ngừng  cải thiện môi trường kinh doanh.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý theo quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH và đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội có tính mở và thực tiễn cao, coi trọng các chỉ tiêu chất lượng, “phủ sóng” bao quát đầy đủ hơn các nguồn vốn, các địa phương và lĩnh vực, vừa đảm bảo tính tập trung thống nhất, vừa kích thích tính chủ động, sáng tạo và phản ứng thị trường kịp thời của địa phương và cơ sở; xác định rõ địa chỉ các tổ chức và cá nhân, trách nhiệm, thời gian và nguồn lực, cùng kế hoạch tài chính, với sự bảo đảm và hỗ trợ về chính trị – hành chính cần thiết trong thực hiện các quy hoạch…

Xúc tiến nhanh hơn, triệt để hơn việc tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, chức năng hành chính với chức năng dịch vụ công, xây dựng một nền hành chính hiện đại, hiệu quả và minh bạch, phân định và làm rõ các quy chế pháp lý khác nhau đối với các loại cơ quan, phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của sở, ban, ngành, phối hợp với các bộ liên quan, tránh tình trạng quản lý chồng chéo, và « tranh công, đổ tội », đùn đẩy công việc và trách nhiệm ; giảm bớt quyền, làm rõ trách nhiệm, tăng cường giám sát và đánh giá công việc của cơ quan và công chức nhà nước từ trung ương đến địa phương, nhất là quyền “thẩm định”, “phê duyệt”, “chấp thuận”, quyền cho phép và cấp phép v.v… chuyển sang hướng dẫn, kiểm tra việc thực thi pháp luật.

Tăng cường phân cấp quản lý kinh tế-xã hội, đảm bảo các chính sách KT-XH vừa thống nhất, vừa đa dạng hoá (không đơn nhất, đồng loạt cho các đối tượng, vùng khác nhau), vừa cú tớnh lịch sử trong ổn định và có thể dự báo được; tăng cường CCHC từ trên xuống theo yêu cầu thực tế và nhiệm vụ quản lý nhà nước, phù hợp cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi và lòng tin cậy cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp cả trên thị trường trong nước và quốc tế; rà soát bãi bỏ hoặc cải cách thủ tục hành chính được theo h¬ướng đơn giản, nhanh gọn và phổ cập rộng rãi mô hình“một cửa, một đầu mối” ở tất cả các cơ quan quản lý; đẩy mạnh việc tinh giảm các bộ phận phòng, ban trong bộ máy quản lý chính quyền các cấp; phân công phân cấp và xác định trách nhiệm rõ ràng¬ cho cấp cơ sở; khuyến khích và thúc đẩy các cấp chính quyền năng động, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, khắc phục tình trạng lười nghĩ, làm bừa, ngại và thiếu trách nhiệm, ngại khó, né tránh và lạm dụng, không tập trung giải quyết triệt để những vụ việc nổi cộm, bức xúc ngay từ khi mới phát sinh ở cơ sở. Ngoài ra, cần đổi mới căn bản hệ thống định mức, chế độ chi tiêu quản lý tài chính  hướng đến kết quả đầu ra, đề cao trách nhiệm và tự chủ của đơn vị và cá nhân liên quan (với những chế tài vật chất và hành chính đủ sức mạnh răn đe đi kèm), chống tình trạng áp dụng máy móc gây khó khăn cho thực hiện và cả quản lý, hoặc làm tăng tình trạng nói dối, biến báo “hợp lý hóa”, kẽ hở cho phát sinh tham nhũng, thất thoát và đầu tư kém hiệu quả.
Xây dựng, phát triển đồng bộ các thị trường và các thể chế hỗ trợ thị trường và quản lý Nhà nước, quán triệt ngày càng đầy đủ các nguyên tắc kinh tế thị trường trong quản lý và tổ chức các hoạt động kinh tế. Nhà nước cần quan tâm và tạo mọi thuận lợi cho phát triển đồng bộ các thị trường, nhất là các thể chế thị trường bậc cao (như TTCK, thị trường KH&CN, thị trường BĐS và thị trường lao động có tổ chức), đảm bảo hoạt động nhịp nhàng và gắn kết giữa các loại thị trường trên địa bàn, giữa thị trường địa phương với hệ thống thị trường cả nước và quốc tế…, đồng thời, đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các thể chế hỗ trợ thị trường, phát triển và tăng cường vai trò các hiệp hội ngành nghề, câu lạc bộ, các loại quỹ, các trung tâm và tổ chức NGO khác, tạo điều kiện để các hiệp hội, các doanh nghiệp được đóng góp ý kiến khi xây dựng, ban hành các quy định quản lý Nhà nước. Xây dựng  hệ thống tiêu thức và phát triển các dịch vụ đánh giá xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, đánh giá và cảnh báo khủng hoảng phục vụ quản lý Nhà nước và kinh doanh ; thúc đẩy tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp và các hoạt động liên kết, hợp tác kinh tế trong và giữa các ngành, các khu vực doanh nghiệp, cũng như giữa các địa phương, tỉnh thành trong nước, hình thành các công ty cổ phần, tập đoàn đa sở hữu có quy mô lớn, công nghệ cao, tài chính mạnh, hình thức và phương thức tổ chức, quản lý hiện đại, đáp ứng đòi hỏi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt; phát triển hệ thống các quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khoa học công nghệ… để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Đề nghị điều chỉnh và bổ sung quy định Vị trí, chức năng của Chính phủ tại Điều 109 Hiến pháp:

“Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chính phủ quản lý thống nhất nhà nước về việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy hành  pháp nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích quốc gia và các lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự phát triển ổn định nền kinh tế và nâng cao chất lượng sống của công dân.

Chính phủ do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và chịu mọi trách nhiệm trước quốc hội; thực hiện chế độ báo cáo và giải trình công tác định kỳ và đột xuất theo yêu cầu với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”.

Tuân thủ đúng quy trình quản lý Nhà nước về giá theo nguyên tắc thị trường nhằm bảo đảm cạnh tranh thị trường lành mạnh, ngăn chặn các hành vi lạm dụng và độc quyền, đầu cơ, bán phá giá và các gian lận thương mại khác;  tránh các sai lầm, như: thả nổi hoàn toàn giá cả thị trường trong nước theo thủy triều giá cả thị trường thế giới, hoặc điều chỉnh giá trong nước theo lộ trình kế hoạch cứng nhắc; chỉ điều chỉnh giá tăng một chiều, chậm hoặc không điều chỉnh khi giá giảm; chỉ quan tâm tăng giá hàng và dịch vụ thông thường, không có sự điều chỉnh tỷ giá bản tệ thích ứng; tách rời mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong khi điều chỉnh. Đặc biệt, cần tuân thủ quy trình và nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường là phải cho cạnh tranh thị trường đầy đủ trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ trước khi cho phép các doanh nghiệp được định giá theo thị trường (nếu chỉ trả giá cả về cho thị trường, mà không trả sự cạnh tranh cần thiết về cho thị trường trong việc hình thành giá cả là tạo cơ hội vàng mang lại lợi ích độc quyền kép cho các doanh nghiệp đang hoặc gần như độc quyền), cần tăng phạt hành chính những vi phạm về giá cả, chống đầu cơ và lũng đoạn, chống lobby mang tính chất ngành và doanh nghiệp tạo ra sự lệch hướng hay thiếu thống nhất về chính sách của Chính phủ và gây thiệt hại chung cho xã hội. Trước mắt, cần nâng cao năng lực và hiệu quả thực tế của công tác giám sát, kiểm soát và xử lý sự độc quyền và các vi phạm về giá từ phía các doanh nghiệp và các bên có liên quan, ngăn chặn hiện tượng lạm dụng trục lợi cá nhân, thậm chí biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, phường hội và phe nhóm…

Thực hiện nghiêm việc đấu thầu thực chất các dự án, đặc biệt là được tài trợ bằng các nguồn lực công, cũng như các hoạt động mua sắm chi từ nguồn đầu tư công với sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các khu vực doanh nghiệp, chứ không phải chỉ khép kín trong khu vực Nhà nước.

Chú ý đến liều lượng, thời lượng, chính sách bổ trợ khi xây dựng và thực thi những giải pháp đã, đang và sẽ triển khai để phát huy mặt tích cực, giảm tiêu cực của các chính sách được lựa chọn.

Coi trọng hơn nữa việc chống tham nhũng và trọng dụng người tài. Nhà nước cần xây dựng một cơ chế chống tham nhũng thực chất hơn, dân chủ hơn, kiên quyết và hiệu quả hơn. Đặc biệt, phải coi chống tham nhũng trong công tác cán bộ như một đột phá mới của CHCC, vì chúng mang lại sự nguy hại to lớn và lâu dài cho đất nước khi tạo ra và dung dưỡng những kẻ ăn bám, phá hoại, làm giảm năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước trong phát triển KT-XH và chống lạm phát, làm xói mòn lòng tin (nhất là của thế hệ trẻ), hủy hoại các nguồn lực quốc gia, làm bạn bè thế giới xa lánh và đổ vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, đe dọa sự an nguy của thể chế và đất nước…

3.  Coi trọng công tác dự báo, thông tin, phản biện chính sách trong quản lý Nhà nước.

Dự báo tốt giúp các cơ quan quản lý Nhà nước chủ động hơn và nâng cao hiệu quả điều hành thực tiễn. Cần coi trọng đúng mức và phân biệt rạch ròi giữa yêu cầu dự báo khách quan với mục tiêu chính sách và ý chí chủ quan. Dự báo cần bám sát, cập nhật và đưa ra các cảnh báo cần thiết về các xu hướng phát triển mới, các nguy cơ tiềm ẩn, các biến động thị trường khách quan trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần coi trọng dự báo, phản biện xã hội và đánh giá khách quan tác động 2 mặt của chính sách đang và sẽ áp dụng, do các tổ chức chuyên nghiệp và độc lập thực hiện, theo đặt hàng của cấp có thẩm quyền, nhằm giảm thiểu những tổn hại (từ lạm dụng kẽ hở chính sách hoặc gây cản trở và phát sinh các chi phí không cần thiết đắt đỏ, lãng phí các nguồn lực xã hội…) do kéo dài chính sách đã trở nên bất cập trước những biến chuyển mau lẹ của thực tiễn.

11.310 410x272 Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới...

Đào tạo và tập huấn cán bộ quản lý kinh tế nhà nước là vấn đề cần được ưu tiên.

Ngoài ra, cần coi trọng việc xây dựng hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ công tác dự báo kinh tế, đảm bảo tính chuyên nghiệp và sự phối hợp ăn khớp cần có giữa các cơ quan chức năng và các loại công cụ dự báo, giữa công tác dự báo với công tác tổ chức thực hiện, cũng như cần coi trọng đúng mức sự tương tác qua lại giữa khoa học dự báo với những đặc điểm luật pháp và KT-XH của đất nước. Tăng cường số và chất lượng thông tin và phát ngôn chính thức Nhà nước, thông tin của doanh nghiệp, định kỳ và không định kỳ, khớp nối, liên thông với hệ thống các chỉ số thống kê quốc gia hàng năm. Thông tin phải minh bạch, đa dạng hơn, nhiều chiều, dân chủ; khắc phục tình trạng các thông tin kinh tế thường bị phân tán, chia cắt, rời rạc, đóng băng và thiếu chuẩn hoá thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý, nhất là không được phổ biến rộng rãi, công khai, gây khó khăn và đắt đỏ cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu tiếp cận, khai thác và sử dụng các thông tin này, cũng như tạo ra những cơ hội thu lợi bất chính cho các tổ chức và cá nhân quản lý các thông tin đó, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế và gia tăng sự lãnh phí các nguồn lực xã hội.

Với tinh thần đó, Nhà nước cần sớm thúc đẩy việc thành lập bổ sung và phát triển mạng lưới các cơ quan có chức năng chuyên trách xây dựng, phản biện và đề xuất hoàn thiện các chiến lược và chính sách quản lý Nhà nước các cấp từ TW xuống các địa phương (bao gồm các Viện, Trung tâm, Phòng, Ban Chính sách và Dự báo kinh tế), đồng thời, bổ sung chức năng này cho  các Sở  tham mưu tổng hợp cho chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW( như sở KH&ĐT, sở Tài chính…), việc xây dựng hệ thống thông tin và dữ liệu kinh tế các cấp (bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, bộ máy tổ chức và kinh phí thường xuyên), cũng như cơ chế khai thác tài nguyên thông tin quốc gia nêu trên. Cần nhấn mạnh rằng, các chi phí cho hoạt động của các tổ chức và hoạt động này là đầu tư phát triển và rẻ hơn nhiều so với lợi ích mà chúng có thể đem lại nếu được tổ chức tốt và có cơ chế cán bộ, vận hành phù hợp với tính đặc thù của nhiệm vụ được giao.

4.  Đảm bảo sự gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với quan tâm phát triển văn hóa, giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội và môi trường, nâng cao chất lượng và yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ lơi ích quốc gia.

Nhà nước cần quan tâm bảo đảm hài hoà các lợi ích trong quá trình phát triển, giảm thiểu chênh biệt giữa các tầng lớp xã hội, các vùng và lĩnh vực; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các hoạt động đảm bảo xã hội có tổ chức công bằng và hiệu quả; nâng cao văn hoá quản lý và văn hóa kinh doanh…

Đặc biệt, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia, trong đó đề cao vai trò của Chính phủ về bảo vệ chủ quyền và lợi ích kinh tế quốc gia, các lợi ích liên vùng, liên ngành, dài hạn, nhất là về tài nguyên, lãnh thổ, khí hậu, người tài, chi tiêu và tài sản công, uy tín quốc gia, lòng tin xã hội, cũng như lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết, phát huy sức mạnh cộng đồng, cả trong và ngoài nước, tất cả vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…

Thế giới đang và sẽ biến đổi ngày càng nhanh chóng, ai biết trước được các xu hướng phát triển của tương lai và thích ứng hiệu quả với chúng thì người đó sẽ chiến thắng.

TS.Nguyễn Minh Phong
PHÓ VỤ TRUỞNG-PHÓ BAN TUYÊNTRUYỀN LÝ LUẬN BÁO NHÂN DÂN

>>Đổi mới quản lý kinh tế của Nhà nước trong bối cảnh mới… (Kỳ 1)



Ý kiến bạn đọc

You can leave a response, or trackback from your own site.