Vốn và câu chuyện đầu tư ra, đầu tư vào

(Pháp lý) – Trong bối cảnh hội  nhập kinh tế thế giới hiện nay, việc đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là hoạt động bình thường. Tuy nhiên, trong giai đoạn khó khăn về vốn hiện nay, thì cả hai hoạt động này cần được quan tâm, cân nhắc kỹ lưỡng nhằm bảo đảm một nền kinh tế an toàn và lành mạnh.

Đầu tư ra nước ngoài

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20 tháng 3 năm 2013 đã có 742 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 15,5 tỷ USD. Các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trung phần lớn vào ngành công nghiệp khai khoáng với 99 dự án, tổng vốn đầu tư 4,6 tỷ USD, (chiếm 13,3% về số dự án và 46% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là ngành nông, lâm, thủy sản  chế biến với 80 dự án, tổng vốn đầu tư 1,9 tỷ USD (chiếm 10,8% số dự án và 12,6% tổng vốn đầu tư); công nghiệp điện đứng thứ ba với 1,8 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 12,1%.

Hiện chỉ khoảng 5 - 6% đầu tư nước ngoài mang công nghệ tiên tiến vào Việt Nam.
Hiện chỉ khoảng 5 – 6% đầu tư nước ngoài mang công nghệ tiên tiến vào Việt Nam.

Về địa bàn đầu tư, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung vào đầu tư ở các nước láng giềng hay đối tác quen thuộc như Lào, Campuchia hay Nga mà phát triển ra những khu vực xa hơn như các nước khu vực Châu Phi, Châu Mỹ, thậm chí cả những nước kinh tế phát triển như  Ô-xtrây-li-a, Mỹ, Singapore, Nhật Bản…  với tổng số là 59 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong số đó, Lào đứng vị trí thứ nhất với  227 dự án với tổng vốn đầu tư trên 4,2 tỷ USD (chiếm 30,6% số dự án và 27,1% vốn đầu tư), Campuchia đứng vị trí thứ 2 với 129 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 2,7 tỷ USD (chiếm 17,4% số dự án và 17,6% vốn đầu tư). Tiếp theo là Liên bang Nga (chiếm 15,2% vốn đầu tư), Venezuela (11,8% vốn đầu tư) và các quốc gia khác.

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam ngày càng đa dạng hơn, thể hiện khá rõ nét qua sự đa dạng về thị trường, về ngành đầu tư, về quy mô, hình thức đầu tư, về các thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp tham gia đầu tư.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó có cả từ phía quản lý nhà nước. Đặc biệt là vấn đề quản lý vốn và nguồn lực ra nước ngoài của các công ty trong khối nhà nước cần đặt ra.

Trong phiên họp Quốc hội mới đây, báo cáo thẩm tra dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi của Uỷ ban Kinh tế Quốc hội cho biết, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án đầu tư ra nước ngoài hiện đang có hai luồng ý kiến khác nhau.

Một số ý kiến nhất trí với quy định của dự thảo luật, theo đó, căn cứ quyết định đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài tại cơ quan nhà nước quản lý về đầu tư. Loại ý kiến thứ hai đề nghị cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo hướng bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài và thay bằng cơ chế đăng ký hoạt động chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài tại cơ quan nhà nước quản lý ngoại hối, cùng với việc tăng trách nhiệm của chủ sở hữu, đại diện chủ sở hữu với phần vốn đầu tư ra nước ngoài.

Tuy nhiên, theo Uỷ ban Kinh tế, đa số ý kiến cho rằng trong bối cảnh Việt Nam chưa tự do hóa các giao dịch vốn, nước ta rất cần vốn để phát triển kinh tế thì chưa nên khuyến khích đầu tư ra nước ngoài. Vì vậy, việc bỏ hoàn toàn thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài là chưa phù hợp, nhất là để quản lý, kiểm soát dòng vốn đầu tư ra nước ngoài.

Doanh nghiệp sản xuất xe gắn máy (Ảnh minh họa)
Doanh nghiệp sản xuất xe gắn máy (Ảnh minh họa)

Về thẩm quyền quyết định đầu tư trong nước và quyết định đầu tư ra nước ngoài hiện cũng có hai luồng ý kiến khác nhau, trong đó một số đề nghị cần quy định chi tiết những dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ trong luật.

Theo Uỷ ban Kinh tế, đa số ý kiến cho rằng để tạo sự minh bạch thì cần quy định những loại dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, của Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ trong Luật. Đồng thời với các ngành, lĩnh vực đặc thù như: dầu khí, viễn thông, năng lượng nguyên tử, truyền tải điện… chỉ thuộc quyền quản lý thống nhất ở cấp trung ương để bảo đảm tính an toàn, hiệu quả và hạn chế đầu tư dàn trải, phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng.

Như vậy, vấn đề đầu tư ra nước ngoài trong giai đoạn hiện nay đang  được cân nhắc và điều tiết sao cho phù hợp với điều kiện nguồn lực còn hạn chế hiện nay.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Đã qua những năm tháng sơ khai, các địa phương thi nhau “trải thảm đỏ” chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Thực tiễn đầu tư nước ngoài ở nước ta thời gian qua cho thấy, bên cạnh nhiều doanh nghiệp hoạt động rất hiệu quả thì cũng có nhiều doanh nghiệp bê bối. Vì vậy, để nâng cao trình độ của nền kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước phát triển thì cần có cơ chế, có quy định lĩnh vực nào được “trải thảm đỏ”, lĩnh vực nào coi như đầu tư trong nước, ưu tiên về số lượng hay về chất lượng…

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nhiều nước đã giảm dần các chính sách ưu đãi khi thu hút FDI theo hướng lựa chọn những ngành phù hợp. Ví dụ: Thái Lan làm khá rõ công nghệ cao cần khuyến khích những ngành gì. Họ đưa ra cụ thể những ngành gì để vận động thu hút đầu tư và dành ưu đãi cho những ngành này. Ưu đãi của họ rất rõ và tập trung. Một mặt cung cấp ưu đãi và một mặt chuẩn bị tất cả những điều kiện nền tảng như nhân sự tốt để tiếp nhận những ngành có ưu đãi. Điều quan trọng nữa là phải cân đối phát triển hài hòa giữa hai khu vực kinh tế FDI và DN trong nước. Vì cơ bản nhà đầu tư nước ngoài vào một quốc gia nào đó là để tìm kiếm lợi nhuận và sau đó chuyển lợi nhuận về nước. Như vậy thì không có nguồn lợi nhuận dôi ra để đầu tư phát triển trong khi DN trong nước nếu có lợi nhuận sẽ tái đầu tư và làm thêm các dự án để phát triển. Vì thế, phải xem lại cơ cấu để những ngành nào cần thu hút thêm FDI, những ngành nào phải dành đất cho DN trong nước. Chuyên gia Phạm Chi Lan cho rằng: “Những ngành mà VN cần thu hút FDI để phát triển, nhất là nâng trình độ của nền kinh tế thì cần cung cấp cho họ những ưu đãi, đặc biệt là đầu tư trong nông nghiệp. Đây là lĩnh vực có tính rủi ro cao, phải đầu tư lớn theo chuỗi giá trị, quy mô lớn, con giống, hệ thống chế biến… nên cần nhà đầu tư FDI. Họ có sẵn những cái ta đang thiếu và VN cần hoan nghênh”.

Tổng kết thực tiễn các chính sách về hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới cho thấy sự thay đổi về cách tiếp cận đối với FDI theo hai cách điển hình là ưu tiên về số lượng và ưu tiên về chất lượng. Cách tiếp cận ưu tiên về số lượng coi FDI là một nguồn vốn đầu tư nên tìm kiếm nguồn lực với những dự án sử dụng nhiều lao động và vốn đầu tư lớn. Cách tiếp cận ưu tiên về chất lượng là hướng đến thu hút một số các hoạt động đầu tư cụ thể mà nước sở tại cho rằng có tác động tích cực lên định hướng phát triển kinh tế. TS Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho rằng “ Nước ta cần kết hợp cả hai cách tiếp cận trên về thu hút FDI. Thứ nhất, luật Đầu tư sẽ cụ thể hóa các hoạt động đầu tư nước ngoài cần phải có biện pháp thu hút. Đồng thời cần xác định các chính sách, biện pháp ưu đãi tương ứng. Thứ hai, đối với các hoạt động FDI khác thì coi như hoạt động đầu tư “tự nhiên” với các biện pháp thu hút như các hoạt động đầu tư trong nước”.

TS Phạm Văn Chắt, chuyên gia kinh tế, cũng khẳng định rằng để “lọc” vốn FDI vào VN hiệu quả nhất là áp dụng biện pháp muốn thu hút lĩnh vực gì thì ưu đãi lĩnh vực đó, còn không thì cắt bỏ mọi ưu đãi. Theo ông, VN nên tập trung ưu đãi để thu hút FDI vào vùng kinh tế khó khăn, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, ưu đãi đầu tư vào công nghệ mới, công nghệ cao; nông nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và bảo quản; dự án kết hợp sản xuất và bảo vệ môi trường sinh thái.

Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Vận động chính sách thương mại quốc tế (VCCI), thì cho rằng việc lựa chọn FDI như thế nào còn phụ thuộc vào những yếu tố đầu vào của VN như nguồn nhân lực, công nghệ, giáo dục, môi trường… Chẳng hạn mỗi năm VN phải giải quyết việc làm cho 1,6 triệu người thì cũng cần thu hút những dự án sử dụng nhiều lao động. Còn nếu mục tiêu thu hút vốn FDI thì phải xác định rõ ưu tiên vào những dự án gì? Những dự án như xi măng, sắt thép với công nghệ thấp gây hại cho môi trường thì phải cân nhắc. Luật sư Trần Hữu Huỳnh nhấn mạnh: “Tùy lĩnh vực lựa chọn chính sách ưu đãi phù hợp. Những ngành đánh đổi vốn lớn nhưng không đưa lại hiệu quả về kinh tế, không đúng mục tiêu thu hút công nghệ cao hay chỉ làm lợi cho một vài địa phương thì phải mạnh dạn loại bỏ”.

Hai mặt của vấn đề

Bên cạnh những lợi ích hiển nhiên to lớn của dòng vốn nước ngoài qua các kênh thu hút khác nhau, như bổ sung vốn đầu tư và gia tăng nguồn động lực mới, tích cực và mạnh mẽ hơn cho phát triển của đất nước, cải thiện cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, công nghệ, thị trường, đội ngũ lao động và quản lý… vẫn cần tỉnh táo nhận diện những tác động mặt trái của chúng để có các giải pháp thích ứng.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới mọi dạng sẽ an toàn và tốt hơn việc trực tiếp vay nợ thương mại (kể cả dưới dạng mua hàng trả chậm theo L/C). Hơn nữa, điều này còn tránh cho nước tiếp nhận đầu tư những khó khăn, lúng túng ban đầu về thị trường, kinh nghiệm quản lý-kinh doanh quốc tế. Cùng với những bảo đảm pháp lý có tính quốc tế, bằng cách điều chỉnh những chiếc “van” như: Ưu đãi thuế, tài chính, tiền tệ, phát triển hạ tầng cứng-mềm, các thủ tục hải quan, hành chính, các nước chủ nhà có thể hướng dẫn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đúng chỗ, đúng lúc, đủ khối lượng cần thiết theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình. Song, chúng ta không thể không quan tâm xử lý những tác động mặt trái của FDI.

Thực tiễn cho thấy, dòng vốn đầu tư này chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.
Nếu việc chuyển giao công nghệ không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì thương, vương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra.

Để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.

Cuối cùng, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

Phan Sao Linh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *