Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi và những vấn đề thu hút nhiều tranh luận

(Pháp lý) – Được coi là “bản Hiến pháp” trong hệ thống luật tư, những quy định trong BLDS tác động lớn đến các quan hệ xã hội dân sự. Do đó, việc sửa đổi Bộ luật này thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia cũng như người dân. So với Bộ luật Dân sự năm 2005, dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) giữ nguyên 265 điều, sửa đổi 298 điều, bổ sung 176 điều, bãi bỏ 147 điều. Nhiều quy định trong Dự thảo hiện vẫn đang gây những ý kiến trái chiều.

Về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự

Điều 19 dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi đề xuất: Tòa án nhân dân không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, Tòa án căn cứ vào tập quán (Điều 11), nguyên tắc áp dụng pháp luật tương tự, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng (Điều 12) để xem xét, giải quyết.

Xung quanh đề xuất này, nhiều ý kiến cho rằng đề xuất này trái với quy định tại khoản 2 Điều 1 Hiến pháp 2013. Theo đó “quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”.

Bà Nguyễn Phương Thảo (Ban Nội chính Trung ương) cho rằng quy định như vậy không những trái với quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân mà còn trái với nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã quy định trong Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Nhiều chuyên gia còn đưa ra những lí do khác: Một là, quy định này liên quan đến thẩm quyền của Tòa án, do đó không thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS, nếu cho phép thì cần phải được quy định chặt chẽ trong Luật Tổ chức Tòa án hoặc trong Bộ luật Tố tụng dân sự; Hai là, quy định này chưa phù hợp với sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Trái ngược với quan điểm nêu trên, nhiều chuyên gia lại cho rằng quy định trên đây không trái với các nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến pháp mà ngược lại nếu đi vào thực tiễn, quy định này sẽ góp phần bảo đảm hơn quyền và lợi ích dân sự của người dân. Theo ông Nguyễn Hồng Hải – Phó Vụ trưởng Vụ Dân sự – Kinh tế Bộ Tư pháp, trên thực tế nhiều tình huống cần sự can thiệp của cơ quan xét xử nhưng vì lí do chưa có luật nên Tòa án từ chối thụ lí, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người dân. Do đó, cần có những quy định mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với những vụ việc chưa có pháp luật điều chỉnh.

Ông Nguyễn Hồng Hải – Phó Vụ trưởng Vụ Dân sự - Kinh tế Bộ Tư pháp (Nguồn ảnh: VOV)
Ông Nguyễn Hồng Hải – Phó Vụ trưởng Vụ Dân sự – Kinh tế Bộ Tư pháp (Nguồn ảnh: VOV)

Về vấn đề này, GS.TS Dương Thị Thanh Mai – nguyên Phó Chánh án TANDTC bày tỏ quan điểm: trên thực tế, rất nhiều trường hợp, luật chưa quy định nhưng thực tế đặt ra vấn đề cần giải quyết. Mặc dù quy định này liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án, cần quy định trong các đạo luật hình thức song khi cần bảo vệ quyền lợi người dân mà luật hình thức như Luật tố tụng dân sự hay luật tổ chức như Luật Tổ chức TAND không quy định thì Bộ luật Dân sự cần quy định.

Về quyền chuyển giới

Công nhận hay không quyền chuyển giới là băn khoăn của nhiều đại biểu khi tham dự Hội thảo góp ý các nội dung liên quan đến y tế trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) do Bộ Tư pháp phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức sáng ngày 14/4.

Đồng tình với quan điểm không thừa nhận quyền chuyển giới, các chuyên gia y tế cho rằng, chuyển giới là vấn đề hết sức phức tạp vì việc đổi giới tính không chỉ làm thay đổi bề ngoài sinh học mà còn có những thay đổi về mặt tâm lý, xã hội đối với cơ thể và giới tính mới.

Việc chuyển giới cần có quá trình kiểm tra tâm lý lâu dài và điều trị hoóc môn nội tiết trước và sau khi phẫu thuật. Có nhiều trường hợp sau khi chuyển đổi giới tính xong, người đó lại muốn quay về giới tính ban đầu vì không thể thích nghi được trong cơ thể mới và những trở ngại trong chuyện hòa nhập xã hội. Mặt khác, nếu ghi nhận quyền được “chuyển giới” sẽ kéo theo các phức tạp về mặt pháp lý đặc biệt trong quan hệ hôn nhân gia đình.

Quang cảnh Hội thảo góp ý Bộ luật Dân sự sửa đổi (Ảnh: dangcongsan.vn)
Quang cảnh Hội thảo góp ý Bộ luật Dân sự sửa đổi (Ảnh: dangcongsan.vn)

Tuy nhiên, PGS.TS.Trần Ngọc Bích (Bệnh viện Việt – Đức) lại cho rằng nên cho phép các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam được thực hiện các kỹ thuật để can thiệp chuyển đổi giới tính cho những người không bị khuyết tật giới tính; những ai được thực hiện, thực hiện như thế nào và giải quyết trường hợp những người đã đi nước ngoài để chuyển giới thì cần phải có Nghị định riêng hướng dẫn về nội dung này.

Còn đại diện Trung tâm ICS (Tổ chức Bảo vệ và Thúc đẩy quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam) đánh giá: dự thảo BLDS sửa đổi đã có sự thay đổi rất tích cực trong việc nhìn nhận quyền của người chuyển giới tại Việt Nam. Đồng thời khuyến nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự nên theo phương án 2, đồng thời bổ sung “Việc chuyển giới được thực hiện theo quy định pháp luật”.

Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

Khoản 1 Điều 145 dự thảo Bộ luật quy định: Trường hợp luật quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà hình thức đó không được tuân thủ thì giao dịch dân sự đó bị vô hiệu, trừ một số trường hợp…

Nhất trí với quy định của dự thảo Bộ luật, một số ý kiến cho rằng quy định như vậy là phù hợp với thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng ở nước ta; bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể xác lập quan hệ hợp đồng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba; góp phần bảo đảm sự ổn định của quan hệ thị trường.

Nhiều ý kiến không đồng tình với quan điểm sửa đổi của BLDS về vấn đề này. TS Tuấn Đạo Thanh (Trưởng phòng Công chứng số 1 Hà Nội) và bà Phạm Thu Hằng (Văn phòng công chứng Âu Lạc) đề nghị tiếp tục duy trì quy định như BLDS hiện hành để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Theo đó, trong trường hợp pháp luật quy định hình thức bắt buộc của giao dịch thì chủ thể của giao dịch phải tuân thủ hình thức đó, nếu không tuân thủ thì giao dịch bị tuyên bố vô hiệu; pháp luật hiện hành chỉ quy định giao dịch được xác lập dưới hình thức bắt buộc trong một số trường hợp liên quan đến bất động sản và động sản có giá trị lớn (ôtô, xe máy, tàu bay…) và việc quy định các bên bắt buộc phải tuân thủ hình thức này là nhằm góp phần quản lý nhà nước đối với các loại tài sản nêu trên.

TS Tuấn Đạo Thanh: Nên quy định như Bộ luật dân sự hiện hành về hiệu lực của hợp đồng vi phạm về hình thức để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật
TS Tuấn Đạo Thanh: Nên quy định như Bộ luật dân sự hiện hành về hiệu lực của hợp đồng vi phạm về hình thức để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật

Về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Bộ luật Dân sự hiện hành không quy định tòa án có quyền điều chỉnh hợp đồng của các bên khi hoàn cảnh thay đổi. Điều này thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối của Nhà nước đối với quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng.

Điều 443 dự thảo Bộ luật về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi quy định trường hợp hoàn cảnh thay đổi dẫn đến quyền, lợi ích của một trong các bên bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng; trường hợp các bên không đạt được thoả thuận trong một khoảng thời gian hợp lý thì Toà án có thể ra quyết định chấm dứt hợp đồng hoặc điều chỉnh hợp đồng.

Bà Nguyễn Thị Hằng, Trưởng Khoa Luật, Đại học Ngoại thương ủng hộ quy định nói trên của dự thảo. Bà cho rằng, thực tế có rất nhiều trường hợp muốn thay đổi hợp đồng nhưng lại không thể quy về bất khả kháng, gây thiệt hại cho các bên. Vì vậy, việc cho phép một bên gặp khó khăn có quyền yêu cầu thiết lập lại, sửa đổi hay hủy bỏ sẽ thuận lợi hơn cho người dân. BLDS cũng cần ghi nhận nguyên tắc thiện chí để nếu một bên giao dịch không có thiện chí tức là anh đã vi phạm nguyên tắc này của BLDS.

GS. TS Lê Hồng Hạnh cũng tán thành “Rất nên có quy định này” nhưng ông lưu ý “phải dựa trên nguyên lý cơ bản là tôn trọng ý chí của các bên”. Đặc biệt theo GS Hạnh quan trọng là phải có những quy định cụ thể hoàn cảnh như thế nào thì được thay đổi.

Nhiều ý kiến cũng đồng tình việc cho phép Tòa án điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi không vi phạm nguyên tắc tự do ý chí, tự do định đoạt của các chủ thể quan hệ hợp đồng mà là sự cụ thể hóa nguyên tắc về tính có giới hạn của việc thực hiện quyền dân sự được quy định tại Điều 16 dự thảo Bộ luật. Theo yêu cầu của nguyên tắc này thì để bảo đảm cân bằng lợi ích của các bên trong hợp đồng, sự ổn định của các quan hệ dân sự, thương mại có liên quan, cần cho phép Tòa án có thể điều chỉnh hợp đồng theo các điều kiện chặt chẽ được quy định trong Bộ luật Dân sự. Việc cho phép Tòa án điều chỉnh hợp đồng sẽ thúc đẩy các hợp đồng được thực hiện trong thực tiễn, đẩy mạnh giao lưu dân sự.

Tuy nhiên, quá trình lấy ý kiến dự thảo BLDS sửa đổi, bên cạnh luồng ý kiến đồng tình, cũng có nhiều ý kiến đề nghị không quy định như dự thảo Bộ luật vì quy định như vậy là không phù hợp với bản chất của hợp đồng là sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận. Các cơ quan nhà nước, trong đó có Tòa án không được và không nên can thiệp vào sự tự do của các bên khi tham gia các giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nói riêng. Việc cho phép Tòa án can thiệp đến mức phân chia thiệt hại, buộc phải đàm phán, buộc bồi thường thiệt hại khi một bên không đàm phán như dự thảo Bộ luật là không đúng với bản chất của hợp đồng và không khả thi trên thực tiễn.

Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản

Điều 491 dự thảo Bộ luật quy định, lãi suất vay do các bên thỏa thuận hoặc do luật định. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 200% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định ở khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Cho ý kiến về vấn đề này, Bộ Tư pháp cũng đã nêu quan điểm rằng, quy định về lãi suất trong Bộ luật hiện hành là cứng nhắc, không thực tế và không phản ánh đúng quy luật cung – cầu của thị trường (quy định “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”).

Còn với quy định mới dự kiến (theo điều 491 nói trên), Bộ Tư pháp cho rằng, sẽ góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm quy định của Bộ luật Dân dự về lãi suất trong hợp đồng vay là điều khoản chung, có tính bao quát, khả thi, ổn định; tạo cơ chế về lãi suất để khuyến khích bên vay thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, bảo đảm sự tuân thủ và kỷ luật hợp đồng trong giao lưu dân sự; bảo đảm hài hòa với mục đích quy định lãi suất là một trong những công cụ để điều tiết nền kinh tế, đặc biệt đối với thị trường vốn, tiền tệ và các mục đích kinh tế, xã hội khác.

Về quyền được chết

Đề xuất bổ sung “quyền được chết” vào Bộ luật Dân sự đang gây ra những tranh luận trái chiều trong dư luận (Ảnh minh họa)
Đề xuất bổ sung “quyền được chết” vào Bộ luật Dân sự đang gây ra những tranh luận trái chiều trong dư luận (Ảnh minh họa)

Đây là đề xuất gây tranh cãi nhiều nhất hiện nay. Đề xuất này được nhiều ý kiến ủng hộ, trong đó, Tiến sĩ Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Y tế nêu quan điểm: trong công việc hàng ngày, các bác sĩ chứng kiến nhiều người bệnh không thể cứu được, phải sống thực vật, bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đau đớn tột cùng về thể xác, sang chấn đến tận cùng về tinh thần. Họ mong muốn được chết, muốn nhờ bác sĩ giúp ra đi một cách êm ái, thanh thản. Nếu pháp luật cho phép, bác sĩ có thể giúp người bệnh ra đi một cách thanh thản bằng cách kết hợp nhiều biện pháp như: cho thuốc mê, nghe một bản nhạc, xem một bộ phim… Đấy cũng được coi là nhân đạo, còn hơn để người bệnh sống thế kia”.

Ngược lại, không đồng tình với việc đưa quy định này vào BLDS, PGS.TS Phùng Trung Tập – Đại học Luật Hà Nội nói: Về mặt lý thuyết thì pháp luật có thể quy định về vấn đề an tử một cách rõ ràng. Nhưng về mặt thực tiễn thì việc quy định về vấn đề an tử cần phải xem xét nhiều vấn đề có liên quan đến sự sống và chết của con người. Việc quy định về an tử lại nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, như: Tôn giáo, quan niệm về sự sống – chết của cá nhân, vấn đề tín ngưỡng; quan niệm về đạo đức, quan niệm về nhân – nghĩa, quan niệm về tâm linh, về vấn đề tâm lý, quan niệm về tính nhân đạo, quan niệm về thiện và ác… còn nhiều điểm chưa thật sự thống nhất trong xã hội. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai gần, pháp luật Việt Nam chưa thể quy định về vấn đề an tử.

Đồng tình với quan điểm trên, Luật sư Hoàng Kim Thoa (Công ty luật QTC) cho rằng trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, việc áp dụng quy định này có thể dẫn đến tình trạng gia đình người bệnh sẽ trốn tránh nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng người bệnh. Trong trường hợp này, những quy định về quyền được chết lại là công cụ tiếp tay cho hành vi giết người có chủ đích, khuyến khích hành vi bất hiếu trong xã hội.

Nhóm PV chuyên mục TCSĐNT (tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *