Qui định pháp luật về xử phạt hành vi cưỡng ép kết hôn và vấn đề hủy hôn ?

(Pháp lý) – Vừa qua, độc giả có địa chỉ e-mail : tupham432@gmail.com gửi thư đến tòa soạn Tạp chí Pháp Lý Online nhờ luật sư tư vấn về vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình. Đơn thư độc giả có nội dung: Nếu bị cha mẹ ép kết hôn với người khác mà không phải hai người yêu nhau. Vậy có được xem là ép kết hôn hay không? Nếu có thì xử phạt như thế nào và có được hủy hôn hay không?

Ban biên tập đã chuyển nội dung yêu cầu tư vấn của độc giả đến Luật sư Nguyễn An. Sau đây là trả lời của LS. Nguyễn An:

1. Về việc xác định trường hợp bạn hỏi có phải kết hôn trái pháp luật không?

Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa hai chủ thể nam nữ được pháp luật Hôn nhân và gia đình ghi nhận và quy định những điều kiện riêng. Một trong số những điều kiện đó là sự tự nguyện của các bên nam nữ khi kết hôn, theo Khoản 2- Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định”việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Trái ngược với sự tự nguyện đó chính là hành vi ép buộc, cưỡng ép các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Theo Khoản 5-Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa: “Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ”.

Hành vi cưỡng ép kết hôn được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như:

– Hành hạ: là hành vi đối xử tàn ác người lệ thuộc vào mình làm cho họ đau đớn, khổ sở về thể xác như đánh đập…tuy chưa đến mức gây thương tích hoặc tổn hại đáng kể đến sức khỏa của nạn nhân nhưng diễn ra một cách có hệ thông.

– Ngược đãi: là hành vi đối xử tồi tệ người lệ thuộc mình nhằm gây những đau khổ tinh thần kéo dài như thường xuyên mắng chửi, sỉ vả, làm nhục, đuổi ra khỏi nhà…

– Uy hiếp tinh thần: là hành vi đe dọa dùng vũ lực gây thiệt hai đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản hoặc dùng uy lực đe dọa sẽ không cho hưởng lợi ích quan trọng, thiết thân nào đó, làm cho người bị đe dọa có căn cứ lo thực sự.

– Những thủ đoạn khác: là những thủ đoạn bất hợp pháp khác có tính chất tương tự như các thủ đoạn nói trên như dùng vũ lực bắt ép người con gái phải đi theo mình trái với ý muốn của họ.

Như vậy, trong trường hợp cha mẹ bạn thực hiện 1 trong những hành vi trên với bạn thì bị coi là có hành vi cưỡng ép kết hôn.

2.  Kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện được xử lý như thế nào?

Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 cũng quy định người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật là: “Bên bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật…”

Về nguyên tắc, khi nộp đơn yêu cầu tại Tòa án, bạn có nghĩa vụ cung cấp giấy tờ chứng minh về tình trạng hôn nhân, nhân thân của vợ, chồng, các chứng cứ chứng minh bị cưỡng ép kết hôn… Nếu  bạn không thể cung cấp các chứng cứ trên thì vẫn có thể nộp đơn tường trình về hoàn cảnh thực tế của mình không thể có các giấy tờ, chứng cứ này. Tòa án sẽ xem xét toàn diện vụ án và tiến hành xác minh, thu thập các giấy tờ, chứng cứ để đảm bảo giải quyết vụ án xin ly hôn một cách khách quan, toàn diện.

Theo điểm d mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP quy định về việc hủy kết hôn trái pháp luật:  “Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì Tòa án quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép đã biết, nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung”.

Do đó, tình huống bạn nêu được chia làm 2 trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu Người con sau khi bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống của hai bên không có hạnh phúc thì Tòa án sẽ xử hủy kết hôn trái pháp luật. Cụ thể như sau:

Việc hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: Theo yêu cầu của người bị cưỡng ép (người con) thì Tòa án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật và gửi bản sao quyết định cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. Căn cứ vào quyết định của Tòa án, cơ quan đăng ký kết hôn xóa đăng ký kết hôn trong Sổ đăng ký kết hôn.

Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật  quy định tại Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

–  Về quan hệ nhân thân: Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên nam, nữ phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

– Về con chung: Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn (Theo khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình: Vợ, chồng thỏa  thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa  thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa  thuận khác.

– Về tài sản: Tài sản được giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó; tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết, có tính đến công sức đóng góp của mỗi bên; ưu tiên bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và con.

Trường hợp thứ 2: Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép đã biết, nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hoà thuận thì không quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

3.    Người thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình thì hành vi từ cưỡng ép người khác kết hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Theo Điều 146 BLHS 1999 sửa  đổi năm 2009 : Hành vi cưỡng ép kết theo một trong những thủ đoạn hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, hoặc bằng thủ đoạn khác  chỉ bị coi là phạm tội cưỡng ép kết hôn khi người thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục thực hiện hành vi này thì bị phạt cản cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.

PV

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *