Một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

(Pháp lý) – Ngày 29.3.2011, Quốc hội đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được quy định tại phần thứ tư của Bộ luật có những điểm mới cơ bản như sau:

1. Việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không quy định về thời hạn phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đã hạn chế quyền được xem xét lại bản án quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm của đương sự.  Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 đã sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo Điều 284 BLTTDS năm 2011, trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị gửi người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Bằng quy định này, Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã “mở rộng” quyền của đương sự về việc kéo dài thời gian được khiếu nại và được giải quyết khiếu nại của cơ quan Toà án đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà đương sự cho rằng có vi phạm pháp luật.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 09 thông qua ngày 29/03/2011 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.

2. Sửa đổi, bổ sung thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Cũng như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng quy định: người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2011 bổ sung thêm quy định những trường hợp đơn đề nghị được kéo dài thời hạn xem xét kháng nghị, cụ thể như sau: Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị 03 năm theo quy định chung nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị: (1) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định của pháp luật trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật và sau khi hết thời hạn kháng nghị là 03 năm đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị; (2) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật như: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Việc vi phạm đó xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.

Như vậy, đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu đương sự có đơn đề nghị và thuộc trường hợp nêu trên thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 5 năm. Quy định mới này của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 có ý nghĩa rất quan trọng.  Với số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm rất lớn trong thực tế thời gian thì việc quy định về thời hạn giải quyết những đơn thư khiếu nại theo thủ tục giám đốc trong thời hạn 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là không thể kịp, chỉ đảm bảo về “lượng” chứ không đảm bảo về “chất”. Việc quy định kéo dài thời gian xem xét đơn đề nghi giám đốc thẩm của đương sự sẽ góp phần giải quyết dứt điểm tình trạng khiếu nại bức xúc kéo dài từ nhiều năm nay, và khắc phục được những bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án các cấp có sai lầm nghiêm trọng.

3. Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, Luật còn bổ sung thêm một chương mới, Chương XIXa quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Theo đó, khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.
Luật cũng quy định rõ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.

Hồ Sỹ Trung
Ban Thanh tra TANDTC