Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, VKSNDTC, TANDTC vừa ký Thông tư liên tịch quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm quy định tại Điều 122 BLTTHS.

7Nguyên tắc chung

Thông tư này áp dụng đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người thân thích của bị can, bị cáo đang bị tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ sở giam giữ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Nguyên tắc của việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm là tuân thủ Hiến pháp, BLTTHS và các quy định pháp luật khác có liên quan; tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm; Cơ qua tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải cân nhắc hiệu quả, tính khả thi của việc thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm; Việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu nộp NSNN số tiền đã đặt để bảo đảm theo đúng quy trình, có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong Quân đội; bảo đảm quyền được trả lại tiền của bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ cam đoan.

Tiền đặt để bảo đảm là đồng Việt Nam, thuộc sử hữu hợp pháp của bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Mức tiền đặt để bảo đảm do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS), Tòa án quyết định nhưng không dưới 30 triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 100 triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng; 220 triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 300 triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Có thể áp dụng mức thấp hơn nhưng không dưới 50% đối với bị can, bị cáo là người được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT, Anh hùng LĐ, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân hoặc được tặng Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sĩ trong kháng chiến; là con đẻ con nuôi hợp pháp của liệt sĩ, BMVNAH, của gia đình được tặng bằng “Gia đình có công với nước”; bị can, bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Trình tự, thủ tục

Trước hết, bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất đề nghị bằng văn bản với cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án về việc nghiên cứu áp dụng biện pháp tiền đặt để bảo đảm đối với bị can, bị cáo.

Những trường hợp bị can, bị cáo không được tiền đặt để bảo đảm gồm: Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; bị can, bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; bị tạm giam trong trường hợp bị bắt theo lệnh, quyết định truy nã; phạm nhiều tội; phạm tội nhiều lần.

Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm, người được bị can, bị cáo ủy quyền, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất phải hoàn thành việc đặt tiền. Trong trường hợp vì trở ngại khách quan, lý do bất khả kháng thì thời hạn tính lại kể từ ngày hết trở ngại khách quan, lý do bất khả kháng.

Việc nộp tiền thực hiện, trường hợp nộp tại Kho bạc nhà nước thì người nộp tiền mang theo Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm để Kho bạc kiểm tra và làm thủ tục nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của cơ quan điều tra hoặc TAND nơi có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Trường hợp nộp tiền tại cơ quan tài chính trong Quân đội thì cơ quan nhận tiền lập biên bản giao nhận tiền, có chữ ký bên nộp tiền, bên nhận tiền và đại diện cơ quan đã ra Thông báo về việc cho đặt tiền để bảo đảm.

Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự: Trong 2 ngày kể từ ngày nhận được liên nộp tiền và Kho bạc hoặc cơ quan tài chính Quân đội, QCĐT phải ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm gửi đến VKS cùng cấp phê chuẩn. Trong thời hạn 2 ngày kể từ khi nhận được quyết định đó, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Khi ra quyết định phê chuẩn, VKS phải ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn (hủy bỏ biện pháp tạm giam).

Trong giai đoạn truy tố, xét xử: Trong thời hạn 2 ngày, kể từ ngày nhận được liên nộp tiền và Kho bạc hoặc cơ quan tài chính Quân đội, VKS, Tòa án phải ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm theo mẫu. Khi ra quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, VKS, Tòa án phải ra quyết định thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm và gửi ngay quyết định đó đến cơ sở đang giam giữ bị can, bị cáo để thi hành.

Quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, quyết định của VKS phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm phải được giao cho bị can, bị cáo, người được bị can, bị cao ủy quyền, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất đồng thời gửi cho cơ quan là chủ tài khoản tạm giữ, cơ sở đang giam giữ bị can, bị cáo.

Thời hạn đặt tiền được tính theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù được tính đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Trong trường hợp gia hạn điều tra, truy tố, xét xử, hoãn thi hành án phạt tù thì thời hạn đặt tiền được tính theo thời gian gia hạn điều tra, truy tố, xét xử, hoãn thi hành án phạt tù.

Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Việc hủy bỏ việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được thực hiện trong các trường hợp: Khi có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội; Bị can, bị cáo đã chết; Bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đã cam đoan; Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam; Bị can, bị cáo vi phạm khoản 2 Điều 122 BLTTHS ( Theo đó, các nghĩa vụ của bị can, bị cáo gồm: Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước).

Việc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được thực hiện như sau:

-Đối với trường hợp có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can; Bị can, bị cáo bị bắt tạm giam về tội đã phạm trước khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc tiếp tục phạm tội; Bị can, bị cáo đã chết nếu vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử thì VKS hoặc Tòa án ra quyết định hủy bỏ; nếu giai đoạn điều tra thì CQĐR đề nghị VKS hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

-Đối với các trường hợp bị can, bị cáo đã chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

-Đối với các trường hợp bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam, thì cùng với việc ra bản án, HĐXX ra quyết định hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

-Đối với các trường hợp bị can, bị cáo vi phạm khoản 2 Điều 122 BLTTHS, nếu vụ án trong giai đoạn truy tố, xét xử thì VKS hoặc Tòa án ra quyết định hủy bỏ và ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam; nếu vụ án trong giai đoạn điều tra thì CQĐT đề nghị VKS ra hủy bỏ, đồng thời CQĐT ra quyết định truy nã bị can.

Khi hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì tiền đã đặt được trả lại, trừ trường hợp vi phạm khoản 2 Điều 122 BLTTHS.

Thủ tục trả lại tiền đặt để bảo đảm do Kho bạc nhà nước quản lý tại tài khoản tạm giữ như sau: Sau khi nhận được quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, người được trả lại tiền phải gửi cho chủ tài khoản tạm giữ là CQĐT, VKS ( trong giai đoạn điều tra, truy tố) hoặc Tòa án ( trong giai đoạn xét xử) đơn đề nghị trả lại tiền kèm theo bản phô tô giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu và quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm.

Trong thời hạn 3 ngày kể từ khi nhận được đơn đề nghị và các tài liệu khác có liên quan, cơ quan chủ tài khoản tạm giữ có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Kho bạc nhà nước trả lại tiền đã đặt và giao hồ sơ cho người có đơn đề nghị để nộp cho Kho bạc nhà nước làm thủ tục nhận lại tiền.

Trong trường hợp tiền đã đặt để bảo đảm do cơ quan tài chính Quân đội quản lý thì sau khi đương sự có văn bản đề nghị, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, cơ quan tiếp nhận đề nghị phải lập hồ sơ đề nghị cơ quan tài chính Quân đội trả lại tiền.

Trường hợp tịch thu, nộp NSNN tiền đã đặt để bảo đảm thì thực hiện như việc tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với vật chứng vụ án theo quy định của pháp luật.

**

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Thông tư liên tịch số 17/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 14/11/2013.

Theo Tapchitoaan

Nguồn bài viết: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/cong-dan-va-phap-luat-2/trinh-tu-thu-tuc-ap-dung-bien-phap-dat-tien-de-bao-dam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *