Tòa không thụ lý đơn khởi kiện, người dân phải làm gì?

(Pháp lý) – BLTTDS 2015 đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tuy nhiên trong thực tế, ngay từ khâu nộp đơn khởi kiện không ít người dân đã gặp khó khăn. Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Nguyễn Văn Vụ, Chánh tòa Dân sự TAND tỉnh Bắc Ninh, Giảng viên Học viện Tòa án xung quanh vấn đề này.

Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án

Phóng viên: BLTTDS 2015 đã qui định“Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Quy định này bảo vệ triệt để hơn các quyền dân sự, kinh tế của người dân và phù hợp với pháp luật của một số quốc gia tiên tiến trên thế giới. Xin ông nói rõ hơn ý nghĩa của qui định này?

 Ths Nguyễn Văn Vụ - Chánh tòa dân sự (TAND tỉnh Bắc Ninh)

Ths Nguyễn Văn Vụ – Chánh tòa dân sự (TAND tỉnh Bắc Ninh)

ThS Nguyễn Văn Vụ: Tôi cho rằng qui định trên đây đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013. Một “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” muốn phát triển theo mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh thì mục tiêu cốt lõi là phải đảm bảo các quyền công dân, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Với tư cách là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nên không được từ chối khi công dân có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự là phù hợp.

Qui định đó cũng xác định rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của Tòa án trong bộ máy nhà nước và tầm quan trọng của quyền tư pháp, nâng cao trách nhiệm của Tòa án… Đảm bảo sự công bằng và quyền tiếp cận công lý của người dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; bảo đảm mọi tranh chấp đều phải được giải quyết bằng cơ chế Tòa án trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác là những nguyên tắc mà pháp luật các nước phát triển đều đề cao.

Qui định đó còn có ý nghĩa nâng cao sự tôn trọng khuôn khổ pháp lý và trật tự trong xã hội. Bởi khi khởi kiện vụ án dân sự đồng nghĩa với việc tranh chấp, có sự mâu thuẫn giữa quyền và lợi ích giữa các bên, nếu Tòa án không thụ lý giải quyết vì lý do không có điều luật để áp dụng sẽ gây sự ức chế tâm lý cho người khởi kiện, dẫn đến ý nghĩ nếu “luật pháp” không điều chỉnh thì sẽ sử dụng “luật rừng” gây mất trật tự, an ninh, an toàn xã hội, làm mất niềm tin của người dân vào cơ quan Tòa án.

Cuối cùng, việc áp dụng quy định này sẽ thúc đẩy quá trình nghiên cứu, ban hành các án lệ từ đó hình thành nên những khuôn mẫu chung, đáp ứng kịp thời các yêu cầu vận động thay đổi của xã hội, khắc phục những lỗ hổng, hạn chế của pháp luật xuất hiện trong quá trình áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án.

Để quy định trên được thực hiện tốt, có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thì Tòa án cần phải có những thay đổi gì, thưa ông?

Quy định mới này đặt ra cho các Tòa án những yêu cầu thay đổi, nâng cao chất lượng hoạt động. Theo tôi, trước hết cần phải nâng cao phẩm chất, trình độ chuyên môn của đội ngũ thẩm phán và cán bộ Tòa án; phải đẩy mạnh công tác hòa giải để các bên có thể thỏa thuận những nội dung cần giải quyết trong vụ án.

Đối với hệ thống Tòa án thì nên rà soát, thống kê và công bố các tập quán tốt đẹp của dân tộc để Tòa án có cơ sở áp dụng khi giải quyết vụ án mà chưa có điều luật áp dụng; đẩy nhanh quá trình nghiên cứu và xây dựng án lệ.

Các Tòa án địa phương đang rất cần hướng dẫn cụ thể chi tiết việc áp dụng pháp luật trong trường hợp trên, bởi hiện nay quy định về việc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng còn khá trừu tượng, khó hiểu, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của thẩm phán khiến cho nhiều vụ án có cùng nội dung nhưng mỗi một Tòa án lại có cách giải quyết khác nhau do cách tiếp cận vấn đề và nhận thức còn khác nhau.

Về cơ sở vật chất của Tòa án cũng cần được cải thiện, tăng cường. Ví dụ thiết lập cổng thông tin điện tử để người dân có thể gửi đơn khởi kiện bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án…

BLTTDS 2015 ra đời với nhiều quy định sửa đổi bổ sung nhằm hạn chế những quy định bất cập, theo ông áp dụng bộ luật mới đã đủ thuận lợi cho các Tòa án hay chưa?

BLTTDS 2015 ra đời với nhiều quy định sửa đổi bổ sung đã khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật không thể dự liệu được đầy đủ, chính xác các trường hợp có thể phát sinh trong các quan hệ xã hội mà quy trình ban hành, sửa đổi một bộ luật, luật không thể thực hiện trong một sớm một chiều mà phải trải qua quy trình rà soát, nghiên cứu trong thời gian dài, dẫn đến tình trạng quan hệ xã hội phát sinh mà chưa có pháp luật điều chỉnh nên gây khó khăn cho người dân thực hiện quyền của mình cũng như Tòa án chưa có cơ sở để áp dụng trong quá trình giải quyết. Ví dụ, BLTTDS năm 2015 đã có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016 nhưng có những quy định cần phải có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thì mới áp dụng được thống nhất. Đây cũng là một khó khăn cần phải khắc phục.

Tòa không thụ lý đơn khởi kiện, người dân phải làm gì?

Mặc dù BLTTDS đã được mở rộng để tạo điều kiện cho người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua Tòa án nhưng thực tế có nhiều trường hợp người dân đã khởi kiện nhưng Tòa án không thụ lý. Xin ông cho biết luật qui định Tòa không thụ lý (trả lại đơn khởi kiện) trong những trường hợp nào?

ThS Nguyễn Văn Vụ: Theo qui định tại Điều 192 BLTTDS, Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau:

– Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại Điều 186 và Điều 187 BLTTDS hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đây là trường hợp quy định về chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà nước. Nếu các chủ thể đó không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì không có quyền khởi kiện.

– Trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật quy định chủ thể khởi kiện phải có đầy đủ các điều kiện khởi kiện nhưng khi khởi kiện họ còn thiếu những điều kiện đó.

– Trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ những trường hợp mà pháp luật quy định người khởi kiện có quyền khởi kiện lại.

– Trường hợp người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, biên lai thu tiền tạm ứng án phí sơ thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật.

– Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là trường hợp nội dung đơn yêu cầu giải quyết không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS hoặc các tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Tòa án chỉ trả lại đơn khởi kiện khi yêu cầu khởi kiện không thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc của Tòa án hoặc cũng nội dung tranh chấp, yêu cầu khởi kiện đó, cũng các đương sự đó nhưng đang được Toà án khác xem xét, giải quyết. Đây là trường hợp nhiều Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo khoản 1 Điều 40 BLTTDS, các bên tranh chấp đều khởi kiện ra Toà án để yêu cầu giải quyết và một trong các Toà án có thẩm quyền đó đã thụ lý giải quyết vụ án. Toà án có thẩm quyền đã thụ lý đầu tiên theo thời gian có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Các Toà án khác nếu chưa thụ lý thì căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS trả lại đơn khởi kiện.

– Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện là trường hợp đã nhận được yêu cầu của Toà án về sửa đổi, bổ sung nhưng họ không tiến hành sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTDS.

– Người khởi kiện rút đơn kiện: Đây là trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi Toà án thụ lý vụ án. Đối với trường hợp này, Tòa án phải lập biên bản trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện, còn nếu sau khi thụ lý vụ án mà người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nếu trong vụ án không có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện và sao chụp tài liệu, lưu lại hồ sơ vụ án.

Ngoài những lý do luật định nêu trên, có trường hợp đủ điều kiện nhưng Tòa án không muốn thụ lý. Theo ông nguyên nhân nào dẫn đến những việc đó?

Nếu có đủ điều kiện mà Tòa án vẫn không thụ lý vụ án thì theo tôi có thể có những nguyên nhân sau đây:

– Vụ án phức tạp, sợ trách nhiệm. Vụ việc dân sự là một trong những loại án khó do các quan hệ pháp luật rất đa dạng và phức tạp, trong khi các quy định của pháp luật chưa đáp ứng được đầy đủ so với quá trình vận động trong xã hội; khiến cho nhiều quan hệ pháp luật dân sự người dân khởi kiện rất mới nhưng chưa có điều luật quy định trực tiếp hoặc có quy định nhưng chưa rõ ràng, còn có sự chồng chéo; việc giải quyết vụ án phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của thẩm phán khiến tâm lý của người thẩm phán không muốn thụ lý giải quyết vì sợ bản án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm Thẩm phán.

– Áp lực công việc nhiều. Nếu Thẩm phán đã thụ lý nhiều vụ mà chưa giải quyết hết, công việc dồn ứ, gây áp lực lớn thì cũng không muốn thụ lý thêm vụ án mới. – Không đủ thời gian để giải quyết khi thời hạn xét xử ngắn.

– Không vô tư giải quyết vụ án vì một lý do nào đó…

Khi gặp trường hợp Tòa án viện dẫn nhiều lý do để từ chối nhận đơn khởi kiện, người dân cần phải làm gì, xin ông cho những gợi ý hướng dẫn.

Trước hết, người khởi kiện phải xem xét việc khởi kiện của mình có đúng quy định của BLTTDS hay không? Nếu việc khởi kiện chưa đúng theo quy định của BLTTDS thì người dân phải thực hiện theo đúng các quy định về việc khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS và hướng dẫn của Tòa án trong những trường hợp cụ thể.

Có thể nhờ người am hiểu pháp luật như luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Trong trường hợp mặc dù đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu mà Tòa án không thực hiện việc thụ lý thì người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của BLTTDS như làm đơn khiếu nại, kiến nghị cơ quan  và người có thẩm quyền xem xét giải quyết hoặc phản ánh với người có thẩm quyền về việc chây ỳ, chậm trễ khi tiếp nhận đơn của cán bộ Tòa án khi họ thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, cũng là một trong những biện pháp có tác dụng, nhằm ngăn chặn những hiện tượng nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân….

Xin chân thành cảm ơn ông!

Thái Đăng (thực hiện)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *