Quyền im lặng: Một tinh thần mới trong tố tụng hình sự

(Pháp lý) – Trong phiên tòa xét xử vụ án Trương Hồ Phương Nga bị truy tố về hành vi lừa đảo ông Cao Toàn Mỹ 16,5 tỉ đồng, bị cáo đã sử dụng quyền im lặng trong quá trình điều tra và ngay tại phiên tòa. Từ sự kiện này, thảo luận về quyền im lặng trong tố tụng hình sự trở thành vấn đề đáng quan tâm.

Ghi nhận trong BLTTHS

Quyền im lặng của bị can, bị cáo không được ghi nhận trực tiếp nhưng đã được chuyển hóa trong nhiều điều luật của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015. Đây được xem là quy định tiến bộ vượt bậc, giải quyết được nhiều bất cập trong tố tụng các vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng lời khai bất lợi cho bị can, bị cáo hoặc chỉ sử dụng duy nhất lời nhận tội của họ để kết tội họ khi đưa ra truy tố, xét xử. Tại điểm e khoản 1 Điều 58; điểm c khoản 2 Điều 59; điểm d khoản 1 Điều 60; điểm h khoản 2 Điều 61 lần lượt ghi nhận người bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo đều có quyền trình bày ý kiến, trình bày lời khai, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

Quyền im lặng của bị can, bị cáo đã được chuyển hóa trong nhiều điều luật của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Quyền im lặng của bị can, bị cáo đã được chuyển hóa trong nhiều điều luật của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Khoản 1 Điều 13 BLTTHS quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” . Điều 15 qui định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.

Như vậy, có thể hiểu người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự chủ về việc khai báo. Những gì bất lợi, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tuy không trực tiếp ghi nhận quyền im lặng cho người bị bắt khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhưng trong thực tế khi làm việc với các cơ quan tố tụng, họ có thể không trả lời một số câu hỏi mà họ cho là chống lại họ và họ cũng không buộc phải khai nhận mình có tội. Đây có thể được coi là một nội dung của quyền im lặng, quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tạo sự nhận thức thống nhất trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung.

Ngoài ra, trong BLTTHS cũng đã có những quy định gián tiếp thể hiện một số nội dung khác của quyền im lặng, ví dụ như quy định về việc người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can; quy định tại phiên tòa, trong giai đoạn xét hỏi, nếu khi được hỏi, bị cáo không trả lời thì HĐXX chuyển sang hỏi người khác. Các quy định về quyền bào chữa, BLHS không coi hành vi từ chối khai báo hoặc khai báo không đúng sự thật của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tội phạm.

Trong vụ án Trương Hồ Phương Nga bị đại gia Cao Toàn Mỹ tố lừa đảo 16,5 tỉ đồng, bị cáo Nga đã sử dụng “quyền im lặng” để tự bảo vệ mình. Theo cáo trạng của VKSND TP.Hồ Chí Minh cũng như phần trình bày của Phương Nga tại tòa, sau khi bị khởi tố và bắt giam, cựu Hoa hậu người Việt tại Liên bang Nga không có bất cứ lời khai nào với điều tra viên. Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất (tháng 9-2016), bị cáo phủ nhận toàn bộ cáo trạng về việc lừa đảo Cao Toàn Mỹ bằng cách mua nhà giá rẻ. Nga giải thích số tiền 16,5 tỉ đồng đó là tiền thực hiện hợp đồng tình cảm chứ không phải bị cáo lừa ông Cao Toàn Mỹ. Tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai (tháng 6-2017) Phương Nga cũng nhiều lần xin thực hiện quyền im lặng, không trả lời câu hỏi thẩm vấn của Hội đồng xét xử và công tố.

Chuyên gia bàn về quyền im lặng

Trước khi ban hành BLTTHS năm 2015, ngay tại Quốc hội, khi thảo luận đã có nhiều quan điểm khác nhau về quyền im lặng của bị can, bị cáo. Thiếu tướng Trịnh Xuyên, Giám đốc Công an Thanh Hóa, nêu ý kiến: “Các bị can, bị cáo phải có nghĩa vụ, quyền được trình bày những ý kiến, hành vi của mình, chứng minh mình không phạm tội và có trách nhiệm giải thích chứ nếu im lặng là không có lý”. Ông Xuyên còn nhấn mạnh: “Quyền im lặng là rất vô nghĩa, nhất là nước ta trong giai đoạn hiện nay khi trình độ dân trí, nhận thức như thế. Nếu quy định quyền im lặng là không phù hợp, gây khó khăn cho cơ quan tố tụng, tính nghiêm minh pháp luật không cao… Có những vụ đánh người gây thương tích như thế mà im lặng không trình bày thì không được”.

Ông Đỗ Văn Đương khi đó là Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thì cho rằng: “Bộ luật này đưa ra nhiều điều luật mới tưởng tiến bộ nhưng rất nguy hiểm. Thứ nhất, mấy việc oan sai rất ít mà sửa luật làm khó cho cơ quan tố tụng. Luật quy định quyền im lặng của người phạm tội, theo tôi, không đúng… Trong luật của nước Mỹ, quyền im lặng là khi chưa có người bào chữa thì anh có quyền im lặng nhưng họ có chế định mặc cả thú tội. Nếu bảo công khai sẽ bất lợi cho chính người phạm tội vì không có luật sư bào chữa cho họ. Chứ không phải sửa trong dự thảo luật của ta là không buộc phải khai, không buộc phải nhận tội ngầm hiểu là không khai báo gì cả. Rất nguy hiểm”.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa ( TP.HCM) thì quan điểm khác hẳn: “Chúng ta đang muốn chuyển đổi lối tư duy làm việc từ bản cung sang chứng cứ. Các vụ án gây bức xúc gần đây như vụ Hồ Duy Hải, Lê Bá Mai cho thấy có những sai phạm trong công tác điều tra, trong đó có việc không coi trọng chứng cứ mà tập trung nhiều vào lời khai… Chuyện trọng chứng hơn cung mấy chục năm nhưng khi làm lại có xu hướng đi vào cung hơn là chứng”, ông Nghĩa nhấn mạnh.

Theo ông, quyền không khai báo đã nằm trong Công ước quốc tế và các nước trong khu vực đã làm. “Mình không thực hiện quyền này là hạ thấp chuẩn mực của tố tụng hình sự, hạ thấp quyền của người dân với quốc tế”, ông nói thêm.

Bị cáo Trương Hồ Phương Nga thực hiện quyền im lặng tại phiên tòa
Bị cáo Trương Hồ Phương Nga thực hiện quyền im lặng tại phiên tòa

Trung tướng Trần Văn Độ, nguyên Phó chánh án TANDTC cũng khẳng định: “Thực chất của quyền im lặng nghĩa là người bị buộc tội, bị can, bị cáo có quyền tự do khai báo. Họ thấy cái gì cần khai báo thì khai báo, những gì bất lợi cho mình thì có quyền không khai báo”. Dẫn lại vụ án, có ông giáo sư đại học bị cơ quan điều tra dọa: nếu anh không nhận tội thì chúng tôi sẽ bắt giam cả anh và bố anh khiến vị giáo sư phải nhận tội nhưng sau đó chứng minh được là ông bị oan (vụ án 2.000 ngày), ông Độ khẳng định: “Công dân có quyền im lặng, còn trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc cơ quan buộc tội, là trách nhiệm của nhà nước. Nhà nước muốn buộc tội thì nhà nước phải chứng minh”.

Mới đây, ông Nguyễn Văn Hiển, Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, cho rằng Bộ luật Hình sự hiện hành cũng không coi người bị buộc tội không trả lời cơ quan, người tiến hành tố tụng những vấn đề bất lợi cho bản thân, không buộc phải nhận tội hay “ngoan cố, không khai báo thành khẩn” là tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, quyền im lặng không loại trừ quyền khai báo của người bị buộc tội. Người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo có quyền khai báo sau khi được giải thích về quyền im lặng. Việc nhận tội của bị can, bị cáo luôn được xem là tình tiết giảm nhẹ trong quyết định hình phạt đối với bị cáo. Quyền im lặng có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với quyền bào chữa, bổ sung cho nhau để bảo đảm cho tố tụng hình sự được tiến hành đúng đắn, khách quan, tránh làm oan người vô tội. Quyền nhờ người khác bào chữa là một phần cụ thể của quyền im lặng và quyền im lặng là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hạn chế được oan sai trong tố tụng hình sự.

Như vậy, với việc luật quy định về các quyền của bị can, bị cáo, sự thay đổi này đã mang lại một tinh thần mới trong pháp luật, mang lại một phong cách làm việc mới cho các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao mức độ bảo vệ quyền công dân và chắc chắn sẽ làm cho hoạt động tố tụng ngày càng văn minh hơn trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

“Quyền im lặng” trong luật pháp quốc tế

Quyền im lặng là một quyền hợp pháp được công nhận, một cách rõ ràng hoặc theo quy ước, trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới. Quyền im lặng là quyền của nghi phạm, của người bị kháng cáo, trong một vụ án có quyền im lặng, không phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hay tự buộc mình có tội. Luật pháp công nhận quyền này căn bản phán xử dựa trên chứng cứ. Các chuyên gia cho rằng, quyền im lặng là một phương tiện quan trọng để hạn chế bức cung, nhục hình – nguyên nhân dẫn đến oan sai trong tố tụng hình sự. Theo quyền này, một công dân được mặc định là vô tội cho đến khi các cơ quan pháp luật chứng minh được người đó có tội.

Quyền im lặng là quyền được luật pháp công nhận trực tiếp và gián tiếp ở 108 hệ thống pháp luật trên thế giới. Quyền này cho phép bị can, bị cáo từ chối trả lời, bình luận hay khai báo thông tin bất lợi cho mình và người thân của mình.

Ở Mỹ, bất kỳ người nào bị cảnh sát tra hỏi đều được thông báo về quyền im lặng (quyền Miranda), trừ một số trường hợp như chất vấn nhân chứng tại hiện trường, tình nguyện cung cấp thông tin…

Chỉ thị 2012/13/EU của Quốc hội Âu Châu ghi rõ là nhà cầm quyền phải thông báo ngay lập tức cho những người bị tình nghi, bị buộc tội, bằng lời nói hay qua giấy tờ với ngôn từ đơn giản và dễ hiểu về quyền im lặng không phải khai báo của họ. Thông báo phải xảy ra vào đúng thời điểm, để nghi phạm, hay người bị buộc tội có thể ứng dụng quyền này.

Ở Đức, Tòa án tối cao không có quyền đưa ra bất kỳ kết luận nào trong trường hợp bị cáo chọn im lặng trong giai đoạn điều tra và xét xử. Tuy nhiên, cảnh sát có quyền đưa ra kết luận trong trường hợp bị cáo chọn im lặng đối với một số câu hỏi, ý kiến liên quan đến vụ việc. Luật cũng qui định, trước khi hỏi cung một người bị tình nghi, về một vi phạm, hay tội phạm của người đó, thì phải loan báo là, “theo luật anh ta được tự do trình bày hay không về những cáo buộc” nhất là khi “những lời khai buộc mình có tội” và bất cứ lúc nào, cả trước khi hỏi cung, được quyền tham khảo một luật sư theo sự lựa chọn. Nếu một người ngoại quốc bị bắt giữ, thì phải loan báo, là anh ta có quyền đòi hỏi là được thông tin cho tòa lãnh sự của mình biết, và những loan báo đó phải được truyền tới tòa lãnh sự của anh ta.

Theo luật này, các cơ quan điều tra tội phạm phải đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ và điều kiện khi bắt hoặc tạm giam một cá nhân như khi nào được bắt giữ nghi can, khi nào có quyền lục soát hay quyền và nghĩa vụ khi hỏi cung, phỏng vấn người tình nghi.

Ở Úc, khi đưa bất kỳ cá nhân nào vào thẩm vấn hay hỏi cung người tình nghi, các cơ quan điều tra phải đảm bảo các quyền sau: Hỏi tên và địa chỉ cư ngụ của người đó – người bị thẩm vấn phải trả lời câu hỏi này; Khuyến cáo rõ ràng cho người bị hỏi, trước khi thẩm vấn: người đó không cần phải trả lời các câu hỏi này và việc đưa ra câu trả lời của họ có thể được sử dụng làm bằng chứng để chống lại người ấy sau này (Điều 122)… Như vậy, quyền im lặng được cho phép tại bất kỳ buổi thẩm vấn nào đối với người bị cơ quan điều tra tạm giữ. Người bị thẩm vấn chỉ phải trả lời câu hỏi về tên và nơi cư trú của mình. Sau đó họ có quyền không trả lời, liên lạc với luật sư cũng như được đảm bảo quyền ăn uống và vệ sinh hợp lý. Đặc biệt hơn, nếu người bị thẩm vấn là người thổ dân thì trước khi bắt đầu tra hỏi, người thẩm vấn phải lập tức thông báo tới cơ quan bảo vệ quyền lợi pháp luật của thổ dân để họ cùng tham gia trong cuộc thẩm vấn.

“Quyền im lặng” cần được hiểu đúng hơn

Trở lại việc im lặng của bị cáo Trương Hồ Phương Nga trong vụ án đang gây chú ý dư luận thời gian này khiến nhận thức về quyền im lặng được quan tâm và nhận thức đúng đắn hơn.

Có thế kết luận rằng, im lặng là quyền chứ không phải nghĩa vụ, không ai bắt bị can, bị cáo phải im lặng. Chỉ có điều nếu sử dụng quyền im lặng thì bị can, bị cáo sẽ bị mất quyền tự bào chữa. Thường bị cáo im lặng khi họ có luật sư nói thay họ.

Qua vụ án này người ta nhận ra rằng, bị can, bị cáo có thể sử dụng quyền này trong cả quá trình tố tụng chứ không phải chỉ cho đến khi “có luật sư” như nhiều người hiểu. Pháp luật đã qui định rằng nếu bị cáo không trả lời thì hội đồng xét xử sẽ hỏi người khác, nghĩa là không ép buộc bị cáo phải khai báo. Thành khẩn khai báo sẽ là tình tiết giảm nhẹ nhưng im lặng sẽ không bị tăng nặng với lý do ngoan cố.

Căn nguyên của quyền im lặng là ở nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định, bên nào khẳng định bên ấy phải chứng minh. Trong tố tụng hình sự, bên khẳng định ( bị cáo có tội) là công tố, nên công tố có nghĩa vụ chứng minh cho quan điểm buộc tội của mình. Nếu công tố không chứng minh được là “có” thì buộc phải kết luận là “không”. Thực hiện đúng nguyên tắc này thì tranh tụng tại phiên tòa sẽ hiệu quả hơn và đương nhiên hạn chế oan sai.

PV

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *