Những trường hợp nào bị cáo được cho phép tại ngoại?

Trong phần bào chữa bổ sung và nói lời sau cùng trước tòa, ông Đinh La Thăng đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX), VKS xem xét cho tại ngoại. Theo luật, những trường hợp nào sẽ được tại ngoại?

Bị cáo Đinh La Thăng kiến nghị HĐXX cho phép được tại ngoại "ăn Tết lần cuối cùng gia đình".
Bị cáo Đinh La Thăng kiến nghị HĐXX cho phép được tại ngoại “ăn Tết lần cuối cùng gia đình”.

Phóng viên đã có cuộc phỏng vấn luật sư Đậu Huy Giang – Công ty Luật HTC Việt Nam – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội xung quanh vấn đề này.

Xin luật sư giải thích rõ, theo quy định thì những đối tượng nào được Hội đồng xét xử cho phép tại ngoại?

Luật sư Đậu Huy Giang: Tại ngoại không phải là một thuật ngữ pháp lý. Tại ngoại là cách hiểu thông thường của mọi người đối với một người đang là đối tượng điều tra trong một vụ án hình sự nhưng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam. Điều kiện tại ngoại đối với bị can, bị cáo không được pháp luật quy định cụ thể. Có thể dẫn chiếu sang điều khoản về các trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam tại khoản 4 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

“4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia”.

Ngoài ra, trong quá trình xét xử, bị can, bị cáo để được tại ngoại, bị can bị cáo phải được “bảo lãnh” hoặc “đặt tiền để bảo đảm” khi đáp ứng các điều kiện cụ thể của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về biện pháp bảo lãnh như sau:

“1. Bảo lãnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lãnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lãnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lãnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lãnh thì có thể nhận bảo lãnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lãnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lãnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lãnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lãnh…”

Bị can, bị cáo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều 122 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 khi đáp ứng các điều kiện sau: bị can, bị cáo phạm tội lần đầu; có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có khả năng về tài chính,…

Trong trường hợp được tại ngoại thì bị can phải chấp hành điều gì? Có trường hợp nào tạm giam rồi lại cho tại ngoại hay không?

Luật sư Đậu Huy Giang: Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, nếu như bị can được bảo lãnh, tại ngoại thì phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

+ Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

+ Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

+ Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Còn trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

Trở lại kiến nghị của ông Đinh La Thăng trong phiên tòa xét xử sáng nay, theo luật sư, liệu kiến nghị này có được chấp nhận?

Luật sư Đậu Huy Giang: Theo bản thân tôi nhận định trường hợp của ông Đinh La Thăng, Hội đồng xét xử có thể không đồng ý cho phép ông tại ngoại, vì:

Thứ nhất, ông Thăng bị Viện Kiểm sát khởi tố với tội danh: “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do vi phạm tội nghiêm trọng về kinh tế, có ảnh hưởng đến chính trị đất nước nên để được xem xét tại ngoại là không khả thi.

Thứ hai, việc tạm giam ông Thăng có thể giúp ích cho việc đảm bảo thi hành án sau khi có bản án.

Như vậy, với tội danh bị truy tố và để đảm bảo cho bản án sau này được thi hành thì việc Hội đồng xét xử xem xét cho ông Thăng tại ngoại là không khả thi.

Xin cảm ơn luật sư!

Theo Infonet

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *