Những “điểm nhấn” trong 5 Luật quan trọng vừa được Quốc hội thông qua

(Pháp lý) – Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV đã thông qua 12 Luật, 12 Nghị quyết với nhiều nội dung nổi bật, đáng chú ý. Kỳ này, Pháp lý trân trọng giới thiệu tới độc giả những “điểm nhấn” đáng lưu ý của 5/12 Luật vừa được Quốc hội thông qua.

 Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua 12 Luật và 12 Nghị quyết quan trọng

Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV đã thông qua 12 Luật và 12 Nghị quyết quan trọng

1. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi): chỉ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người thân thích của người bị oan khi người bị oan đã chết

Nội dung đáng chú ý nhất trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) là vấn đề bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với người thân thích của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự. Theo đó, Khoản 4 Điều 27 của Luật sửa đổi quy định việc bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với người thân thích của người bị thiệt hại chỉ đặt ra trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết. UBTV Quốc hội cho rằng, quy định như vậy là kế thừa quy định của Luật hiện hành, đồng thời phù hợp với quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng chi trả của ngân sách nhà nước. Hơn nữa, bồi thường thiệt hại về bản chất là bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại, nhưng trong trường hợp người đó đã chết thì người thừa kế được hưởng. Nếu quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với người thân thích của người bị thiệt hại trong trường hợp người đó còn sống thì không hợp lý và dễ phát sinh phức tạp trong quá trình thực hiện.

Tiếp theo, trong vấn đề trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) đã bổ sung trường hợp người thi hành công vụ phải có trách nhiệm hoàn trả ngay cả đối với lỗi vô ý gây ra thiệt hại đã đến mức bị truy cứu TNHS. Bên cạnh đó, trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường đã được bổ sung trong Luật (sửa đổi). Theo đó: Trong trường hợp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định không còn là căn cứ yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây thiệt hại đã hoàn trả thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm trả lại số tiền mà người đó đã thực hiện.

Về xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, Luật sửa đổi vẫn quy định theo nguyên tắc chung là cơ quan ra quyết định gây oan sau cùng chịu trách nhiệm bồi thường.

image005Về nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc tiến hành xin lỗi, cải chính công khai trong các trường hợp thiệt hại về tinh thần, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) quy định nghĩa vụ này chỉ đặt ra khi có yêu cầu của phía người bị oan.

Về phục hồi danh dự cho người bị oan, Luật sửa đổi đã bổ sung quy định cơ quan nhà nước có trách nhiệm chủ động tổ chức xin lỗi công khai người bị oan và phục hồi danh dự cho họ, trừ trường hợp người bị oan đề nghị không tổ chức xin lỗi công khai.

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018.

2. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công: cho phép đấu giá biển số xe và cho phép khai thác tài sản công chưa sử dụng hết công năng để tránh lãng phí

Luật này được đổi tên từ Luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước (sửa đổi). Một nội dung mới của Luật là việc quy định kho số trong phạm vi tài sản công. Với nội dung này, Luật quản lý, sử dụng tài sản công xác định kho số của Nhà nước gồm nhiều loại khác nhau và được khai thác bằng các hình thức khác nhau để phù hợp với tính chất, đặc điểm, yêu cầu quản lý của từng loại kho số (số xe, tàu, thuyền, máy bay, căn cước công dân, hộ chiếu…) và bảo đảm phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ. Theo đó, Luật cho phép áp dụng việc đấu giá biển số xe nhưng không được làm ảnh hưởng tới việc quản lý nhà nước đối với phương tiện giao thông, vì mỗi biển số được cấp gắn với một phương tiện giao thông; người trúng đấu giá không được quyền bán lại biển số xe đã cấp.

Một nội dung khác cũng gây chú ý là về khai thác tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập. Để đảm bảo chặt chẽ, tránh việc lợi dụng đầu tư dư thừa công năng, công suất để đưa vào kinh doanh, Luật quản lý, sử dụng tài sản công đã quy định việc đầu tư xây dựng cơ sở hoạt động sự nghiệp chỉ được thực hiện trong trường hợp chưa có cơ sở hoạt động sự nghiệp, hoặc cơ sở hoạt động sự nghiệp hiện có còn thiếu diện tích so với tiêu chuẩn, định mức; không cho phép đầu tư xây dựng mới tài sản từ ngân sách nhà nước chỉ sử dụng vào mục đích kinh doanh dịch vụ, cho thuê, liên doanh, liên kết. Đồng thời cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập được khai thác tài sản công chưa sử dụng hết công suất để tránh lãng phí nhưng phải được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao, không làm mất quyền sở hữu về tài sản công; bảo toàn và phát triển vốn, tài sản Nhà nước giao, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và phát huy công suất và hiệu quả sử dụng tài sản.

Luật quản lý, sử dụng tài sản công có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

3. Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi): mở rộng phạm vi đối tượng được trợ giúp pháp lý

Diện người được trợ giúp pháp lý trong Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi) đã bao quát và mở rộng hơn nhiều so với Luật trợ giúp pháp lý 2011, tăng từ 7 nhóm lên 14 nhóm người được trợ giúp pháp lý, thể hiện đúng bản chất của trợ giúp pháp lý của Nhà nước, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước.

Theo đó, Điều 7 của Luật sửa đổi quy định Người được trợ giúp pháp lý gồm: Người có công với cách mạng; Người thuộc hộ nghèo; Trẻ em; Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo; Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Luật có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018.

Các ĐBQH bấm nút biểu quyết thông qua các dự án Luật, Nghị quyết tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV
Các ĐBQH bấm nút biểu quyết thông qua các dự án Luật, Nghị quyết tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

4. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: sẽ tiếp tục sửa đổi các luật liên quan đến nội dung hỗ trợ

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) gồm 4 Chương, 35 Điều. Luật quy định về nguyên tắc, nội dung, nguồn lực hỗ trợ DNNVV; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hỗ trợ DNNVV. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý:

Tiêu chí xác định DNNVV gồm có: 1. DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng 01 trong 02 tiêu chí: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. 2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.

Ba nhóm đối tượng DNNVV mà Luật hỗ trợ trọng tâm đó là: Doanh nghiệp mới chuyển đổi từ hộ gia đình; doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, bám theo những sản phẩm chủ lực, tạo quỹ giá trị bền vững cho sản phẩm đó tồn tại trên thị trường.

Trong nguyên tắc hỗ trợ DNNVV, có một nội dung đặc biệt, đó là trường hợp DNNVV đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Luật hỗ trợ DNNVV và quy định khác của pháp luật có liên quan thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất. Trường hợp nhiều DNNVV cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ thì ưu tiên lựa chọn DNNVV do phụ nữ làm chủ, DNNVV sử dụng nhiều lao động nữ hơn.

Các nội dung hỗ trợ cho DNNVV, bên cạnh những nội dung mang tính kế thừa, Luật hỗ trợ DNNVV cũng có những điểm mới hơn so với Nghị định về hỗ trợ DNNVV: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV; Hỗ trợ thuế, kế toán; Hỗ trợ mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin tư vấn và pháp lý; Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực; Hỗ trợ mặt bằng sản xuất; Hỗ trợ công nghệ, cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật và khu làm việc chung.

Từ những nội dung này, Quốc hội sẽ tiếp tục rà soát sửa đổi các Luật liên quan như Luật Đất đai; Luật Đấu thầu; Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp; Luật Đầu tư… Đặc biệt, ngay trong Luật hỗ trợ DNNVV đã có một quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan là Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu.

Về quyền và trách nhiệm của các hội trong việc hỗ trợ DNNVV, Luật DNNVV chỉ quy định chung về trách nhiệm của các hiệp hội ngành nghề chứ không quy định về quyền và trách nhiệm của VCCI, hiệp hội DNNVV như trong Dự thảo Luật trước đây nữa.

Luật Hỗ trợ DNNVV sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

5. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi): Thu hẹp phạm vi chịu TNHS của Luật sư về hành vi không tố giác thân chủ

Thu hẹp phạm vi chịu TNHS của người bào chữa về hành vi không tố giác thân chủ; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và bổ sung; Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp là ba nội dung nổi bật trong BLHS 2015 (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua.

Về vấn đề TNHS của người bào chữa đối với hành vi không tố giác thân chủ quy định tại khoản 3 Điều 19 BLHS 2015.

Trong BLHS 2015 và trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 đều xác định: Người bào chữa phải chịu TNHS về hành vi không tố giác đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 BLHS do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện tội phạm hoặc đã thực hiện tội phạm. Ngoài ra, người bào chữa cũng phải chịu TNHS đối với các tội khác là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng quy định tại Điều 389 BLHS do thân chủ của mình đang chuẩn bị phạm tội hoặc đang thực hiện tội phạm.

Quy định này nhận được rất nhiều ý kiến trái chiều và gây ra rất nhiều tranh cãi trong giới luật gia, luật sư…Cuối cùng, Quốc hội đã quyết định sửa đổi theo hướng thu hẹp hơn phạm vi chịu TNHS của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm. Cụ thể: Khoản 3 Điều 19 BLHS 2015 (sửa đổi) xác định người bào chữa chỉ phải chịu TNHS về hành vi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại Điều 389 BLHS) do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa.

Về phạm vi chịu TNHS của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội hiếp dâm và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, BLHS 2015 (sửa đổi) đã thu hẹp hơn so với BLHS 2015. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về loại tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng đối với 3 tội danh nêu trên.

Luật cũng bổ sung một điều luật mới về Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp để xử lý hình sự hành vi kinh doanh đa cấp trái phép, tránh để xảy ra hậu quả rồi mới xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như một số vụ án liên quan đến kinh doanh đa cấp vừa qua. Theo đó, tội này được bổ sung vào BLHS 2015 (sửa đổi) tại Điều 217a với nội dung: Người nào tổ chức hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp hoặc không đúng với nội dung giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp thì bị phạt. Hình phạt cao nhất lên đến 5 tỷ đồng hoặc 5 năm tù. Luật cũng quy định chi tiết về hành vi và định lượng cụ thể về hậu quả gây ô nhiễm môi trường trên cơ sở đề xuất của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành.

Cùng với việc thông qua BLHS 2015 (sửa đổi), Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết về việc thi hành BLHS 2015 và các luật có liên quan. Theo đó, Nghị quyết quy định, kể từ ngày 01/01/2018, các bộ luật, luật gồm Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.

Ngoài các Luật đáng chú ý nêu trên, Quốc hội còn thông qua các Luật, Nghị quyết sau: Luật Cảnh vệ; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật Thủy lợi; Luật Du lịch (sửa đổi); Luật chuyển giao công nghệ (sửa đổi); Luật Đường sắt (sửa đổi); Luật Quản lý ngoại thương; Nghị quyết về xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng; Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện chính sách vệ sinh an toàn thực phẩm; Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc bổ nhiệm 02 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết Phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2015; Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại DN và cổ phần hóa DNNN, giai đoạn 2011-2016”; Nghị quyết Về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV; Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017; Nghị quyết về việc tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án thành phần để triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành…

Hương Lan (tổng hợp)

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *