Khi tòa án từ chối thụ lý giải quyết vụ án (Bài 2): Tháo gỡ rào cản

(Pháp lý) – Khắc phục những bất cập, gỡ khó cho dân, BLTTDS 2015 đã có những quy định tạo thuận lợi cho người khởi kiện. Về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, Điều 6 qui định đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự. Tuy nhiên, ngoài việc chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp luật định thì Tòa án cũng có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ.

Một phiên tòa dân sự (ảnh minh họa)
Một phiên tòa dân sự (ảnh minh họa)

Ngoài ra, luật còn qui định một số trường hợp về dân sự, hôn nhân, gia đình mà người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án.

Điểm a, khoản 1, Điều 40 qui định: “Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.

Điều 190 quy định về phương thức nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng các phương thức sau: nộp trực tiếp tại Tòa án; gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; và thêm điểm mới là có thể gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của tòa án (nếu có).

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Về nhận đơn khởi kiện, khi nhận đơn khởi kiện phải: Ghi vào sổ nhận đơn. Đối với đơn trực tiếp nộp thì Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Về xử lý đơn khởi kiện, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; trả lại đơn khởi kiện.

Về trả đơn khởi kiện, BLTTDS quy định rõ những trường hợp trả đơn khởi kiện, cụ thể là: “Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó”. Đặc biệt, nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc về địa chỉ của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, BLTTDS đã quy định: Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện”.

Về khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, ngoài những quy định như Điều 170 của BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011, BLTTDS đã bổ sung: “Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp… có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng.”

Có thể nói những qui định mới của BLTTDS 2015 đã khá đầy đủ, tạo thuận lợi cho người dân yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, vấn đề người dân trông đợi nữa là tinh thần làm việc vô tư, khách quan, tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Tòa án.

Về xử lý đơn khởi kiện, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định xử lý…

PV

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *