Bài 7: 87 tội Luật sư phải tố giác thân chủ của mình

(Pháp lý) – Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, kể từ ngày 1/1/2018, Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm nếu không tố giác thân chủ của mình trong một số trường hợp luật định. Theo đó, có 87 tội Luật sư buộc phải tố giác thân chủ của mình.

Trình bày báo cáo giải trình tiếp thu dự án luật trước Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga cho biết quan điểm của Ủy ban Thường vụ về nguyên tắc, với tư cách là công dân, người bào chữa có nghĩa vụ bình đẳng như mọi công dân khác trong việc tố giác tội phạm.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga trình bày báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến sửa đổi BLHS trước Quốc hội. Ảnh: Quochoi.vn
Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga trình bày báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến sửa đổi BLHS trước Quốc hội. Ảnh: Quochoi.vn

Nguyên tắc này đã được Hiến pháp ghi nhận và được thể chế hóa trong các luật về tư pháp từ trước đến nay. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, trong suốt hơn 30 năm (năm 1985 – 2015), chính sách của nhà nước ta về trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của người bào chữa được xác định như mọi công dân khác.

“Việc Nhà nước không miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm của người bào chữa xuất phát từ mục đích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng. Trong một số trường hợp người bào chữa vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi không tố giác tội phạm của chính người mà mình bào chữa”, bà Nga nói.

Tuy nhiên, quá trình soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, vấn đề trên tiếp tục có những ý kiến trái chiều. Ủy ban Thường vụ tiếp thu một phần ý kiến của đại biểu, của Liên đoàn Luật sư Việt Nam chỉnh lý điều luật theo hướng thu hẹp hơn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm.

Theo đó, Quốc hội đã thông qua khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau: “Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”.

 Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Như vậy, Luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm nếu không tố giác thân chủ của mình trong trường hợp thân chủ phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do thân chủ đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà Luật sư biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Cụ thể, trong số các tội mà Luật sư buộc phải tố giác thân chủ của mình, có: Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108); Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109); Tội gián điệp (Điều 110); Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 111); Tội bạo loạn (Điều 112); Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113); Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội (Điều 115); Tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116); Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117); Tội phá rối an ninh (Điều 118); Tội chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119); Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 120); Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121); Tội giết người (Điều 123); Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142)…

PV (tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *