Những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống tội phạm sử dung công nghệ cao tại TP. HCM và giải pháp khắc phục | Pháp lý Online

Những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống tội phạm sử dung công nghệ cao tại TP. HCM và giải pháp khắc phục

Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao

Công nghệ thông tin ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống con người, đặc biệt là sự phát triển mạnh của mạng Internet, số lượng người sử dụng Internet và các thiết bị viễn thông đang gia tăng nhanh chóng. Trên thế giới, số lượng người sử dụng Internet vào khoảng 1,8 tỷ người. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến cuối năm 2012 cả nước có 30.552.417 người dùng Internet. Số người sử dụng Internet không ngừng tăng nhanh với mức tăng bình quân trong vòng 5 năm trở lại đây là 14,64%/năm. (Theo Sách trắng về CNTT – TT 2012).

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển như trên cũng kéo theo xu hướng gia tăng các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội. Tôi phạm sử dụng công nghệ cao là loại tội phạm mới xuất hiện tại Việt Nam trong những năm gần đây. Loại tội phạm này được hiểu như là loại tội phạm do các đối tượng có trình độ về công nghệ cao sử dụng những thành tựu mới của khoa học – kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Theo ông Khoo Boon Hui – Chủ tịch Interpol -trong Hội nghị Đại hội đồng Interpol lần thứ 8 tại Hà Nội (từ ngày 31/10 đến 03/11/2011) cho biết thiệt hại mà tội phạm sử dụng công nghệ cao gây ra có thể lên đến 400 tỷ đô la mỗi năm và có xu hướng tiếp tục tăng. Đó là những thiệt hại về vật chất, thực tế những bí mật quốc gia, uy tín của các tổ chức tài chính bị xâm hại khó có thể quy đổi thành những con số cụ thể.

373 410x230 Những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống tội phạm sử dung công nghệ cao tại TP. HCM và giải pháp khắc phục

Đối tượng và phương tiện, tang vật trong vụ tội phạm sử dụng công nghệ cao gây án (Ảnh minh họa) Nguồn: Internet

Ở Việt Nam, tội phạm sử dụng công nghệ cao đã xuất hiện từ năm 1998, với những vụ trộm cắp cước viễn thông. Theo thời gian, số lượng và mức độ của loại tội phạm này ngày càng tăng. Năm 2010, năm đầu tiên thành lập Cuc Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã phát hiện và xử lý 75 vụ việc.  Năm 2011 phát hiện 128 vụ việc.  Năm 2012 phát hiện 261 đầu mối vụ án, vụ việc, tăng 133 vụ (103%). Thiệt hại trong năm 2012 là hơn 2.000 tỉ đồng. Điều này cho thấy tội phạm sử dụng Công nghệ cao tiếp tục tăng, qua đó cho thấy tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam cùng xu hướng với sự phát triển của loại tội phạm này ở phạm vi thế giới.

Địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội của cả nước vì vậy không khó hiểu khi thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn trọng điểm xảy ra các vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao. Trong những năm qua, loại tội phạm này đã gây nhiều thiệt hại cho thành phố như: vụ lừa đảo tài chính của công ty Golden Rock tại TPHCM do 02 đối tượng Stanley Elliot Tan và Patrick Chang gây ra thiệt hại gần 10 triệu USD. Vụ lừa đảo tài chính của công ty Colony Invest trên địa bàn thành phố do đối tượng Nguyễn Văn Lợi thực hiện thiệt hại 10 tỷ đồng (năm 2007). Hay vụ trộm cước viễn thông của Angelique Bửu Thái và Đổng Đức Việt Thương phạm tội năm 2005 thiệt hại khoảng 9,1 tỷ đồng… Ngoài ra còn có những thiệt hại khác khó có thể xác định bằng đơn vị tiền tệ như các vụ lợi dụng mạng Internet tuyên truyền chống Nhà nước; vụ lợi dụng mạng Internet truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Đối tượng Nguyễn Tăng Trường chủ trang web mocxi.com bị khởi tố tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy– năm 2009)…

Khó khăn vướng mắc trong xử lý

Mặc dù xảy ra nhiều, thiệt hại lớn nhưng kết quả đấu tranh với loại tội phạm này vẫn còn hạn chế. Theo đánh giá của các cán bộ làm công tác thực tiễn số vụ phạm tội thực tế xảy ra gấp nhiều lần so với các vụ đã bị phát hiện và khám phá của cơ quan chức năng. Nguyên nhân của tình trạng đó là do trong quá trình phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Qua thực tế cho thấy có những khó khăn, vướng mắc cơ bản sau:

Thứ nhất: Về góc độ pháp lý. Các hành vi phạm tội về công nghệ cao chủ yếu được thực hiện trên môi trường mạng Internet, những dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội chưa được xem là chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đây là vướng mắc rất cơ bản, gây nhiều khó khăn cho lực lượng Công an thành phố trong xử lý các vụ án sử dụng công nghệ cao. Ngoài ra còn phải kể đến quy định của Bộ luật Hình sự về các tội danh này cần phải bị xử lý hành chính trước, nếu tái phạm mới bị xử lý hình sự đã làm cho điều luật không đủ tính răn đe.

Thứ hai: Về lực lượng. Hiện nay Công an thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có lực lượng chuyên trách để phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Ngoài ra, trình độ chuyên môn của cán bộ chiến sĩ Công an thành phố cũng chưa đáp ứng được yêu cầu để đấu tranh loại tội phạm này. Khi tội phạm xảy ra, việc điều tra, khám phá đòi hỏi tính chuyên môn cao, vì vậy hầu hết các vụ việc nghiêm trọng, Công an thành phố phải phối hợp với Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phía Nam để phá án.

Thứ ba: Đối tượng phạm tội là người nước ngoài. Có nhiều vụ án có tổ chức mà đối tượng tội phạm là người nước ngoài, cư trú ở nước ngoài, cấu kết chặt chẽ với các đối tượng trong nước để thực hiện tội phạm. Do vậy, trong quá trình điều tra đã gặp nhiều khó khăn về ngôn ngữ, về áp dụng các quy định pháp luật đối với người nước ngoài và ảnh hưởng của vấn đề Hỗ trợ tư pháp với các nước nên mức xử lý đối với người nước ngoài thường không cao, chủ yếu dùng hình thức trục xuất. Điển hình như: Ngày 15/7/2011, Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Công an phường Tân Thuận Đông, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện, bắt tạm giữ 11 đối tượng là người nước ngoài (quốc tịch Thái Lan) có hành vi “Sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Trường hợp này cơ quan An ninh điều tra, Phòng Quản lý Xuất Nhập cảnh – Công an Tp. Hồ Chí Minh lập thủ tục xử lý vi phạm hành chính, trục xuất các đối tượng này về nước.
Thứ tư: Dấu vết, chứng cứ phạm tội rất dễ bị tiêu hủy. Các đối tượng này sử dụng mạng internet làm phương tiện phạm tội. Do đó, hầu hết các tài liệu chứng cứ của tội phạm này là các file lưu trữ trên máy tính, trên mạng. Khi bị phát hiện, tội phạm có thể xoá, sửa nhanh chóng để tiêu huỷ nên rất khó thu thập chứng cứ. Ngoài ra, các đối tượng này thường sử dụng nick name, địa chỉ email để giao tiếp với nhau và với các bị hại nên rất khó xác định nhân thân địa chỉ của đối tượng hoặc bị hại, nhất là ở nước ngoài. Quá trình điều tra thu thập chứng cứ của vụ này gặp nhiều khó khăn, hầu hết chứng cứ chỉ được xác định trên cơ sở lời khai nhận của các đối tượng, các thông tin in từ mạng internet được xác nhận bằng chữ ký của đối tượng.

Giải pháp và kiến nghị

Xuất phát việc nhận diện những khó khăn vướng mắc  nêu trên, để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố trong thời gian tới, theo chúng tôi cần tiến hành các biện pháp sau đây:

Một là: Đề xuất Quốc hội hoàn thiện quy định về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Cụ thể bổ sung, thừa nhận loại chứng cứ là dữ liệu điện tử, hình ảnh và phim ảnh có độ xác thực được chứng minh. Đây là đòi hỏi tất yếu trong quá trình phòng ngừa và điều tra tội phạm sử dụng công nghệ cao. Điều này cũng phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới như Anh, Nhật, Mỹ.. đều đã thừa nhận loại chứng cứ này. Bên cạnh đó, các Bộ có liên quan cần ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn xử lý các loại tội phạm công nghệ cao như: cá độ bóng đá qua mạng, đánh bạc qua mạng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng, truyền bá văn bá phẩm đồi trụy qua mạng (số lượng, dung lượng của đĩa, USB…), trộm cắp cước viễn thông quốc tế… để đảm bảo căn cứ xử lý các tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Hai là: Đề xuất Bộ Công an cho phép thành lập Trung tâm kỹ thuật phòng chống tội phạm CNC thuộc Công an thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay đấu tranh chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên địa bàn thành phố chưa có lực lượng chuyên trách, khả năng phát hiện và đấu tranh còn hạn chế, nhưng nếu thành lập một lực lượng chuyên trách thì lực lượng này phải điều tra nhiều loại án khác nhau thuộc kinh tế, ma túy, an ninh, hình sự…, điều này gây nhiều khó khăn hơn nữa so với tình trạng hiện nay, biện pháp khả thi nhất là thành lập Trung tâm kỹ thuật phòng chống tội phạm công nghệ cao. Vì xét cho cùng việc điều tra các loại án này cũng không khó khăn phức tạp, điều khó khăn lớn nhất là phải phát hiện được hành vi phạm tội, và thu thập được những chứng cứ điện tử, để chứng minh, vì vậy yếu tố kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong điều tra án có sử dụng công nghệ cao. Có một lực lượng chuyên phụ trách kỹ thuật khi cần thiết, thì các lực lượng khác yêu cầu phối hợp, giúp trinh sát thu thập thông tin, xác minh đối tượng, thu thập, bảo quản, khai thác thông tin điện tử để sử dụng làm căn cứ xử lý vụ án. Hình thức này giống như hoạt động của lực lượng kỹ thuật hình sự, không trực tiếp điều tra nhưng có nhiệm vụ thu thập các chứng cứ ở hiện trường, giám định dấu vết… hỗ trợ cho công tác điều tra. Tuy nhiên, khác với lực lượng kỹ thuật hình sự, lực lượng kỹ thuật công nghệ cao sẽ kiêm nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm, cụ thể sẽ thực hiện việc quản lý mạng, lập hồ sơ sưu tra, hiềm nghi phát hiện các hoạt động nghi vấn phạm tội để ngăn chặn, kiểm soát các hoạt động trên mạng và ngăn chặn các hoạt động tấn công cơ sở dữ liệu. Để thực hiện có hiệu quả cần trao nhiều quyền cho lực lượng này như được phép vô hiệu hóa những trang web có nội dung xấu, đồi trụy, vi phạm quyền sở hữu, tuyền truyền chống phá nhà nước, hoặc có mục đích lừa đảo, có căn cứ để khẳng định vi phạm pháp luật khác.

Ba là: Có kế hoạch tập huấn, đào tạo chuyên sâu cho cán bộ, chiến sĩ Công an thành phố đặc biệt là kiến thức về quản trị mạng, bảo mật, “bẻ khóa”… đảm bảo đủ trình độ đương đầu với các hacker chuyên nghiệp . Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan giám định, các cơ quan có chức năng khác để có điều kiện phát huy tác dụng trong công tác đấu tranh phòng chống và xử lý tội phạm.

Bốn là:  Hợp tác với các nước có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao như Anh, Úc, Mỹ để đào tạo cán bộ, mua các phần mềm chuyên dụng và phối hợp đấu tranh các vụ án xuyên quốc gia. Đẩy nhanh việc thảo luận ký kết các điều ước Quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

TS. Phan Đình Khánh – Th.S Nguyễn Văn Tửng
Trưởng ban nghiên cứu –Hội luật gia TP.Hồ Chí Minh



Ý kiến bạn đọc