“Tung hô” giá trị, sở hữu chéo ở Doanh nghiệp: Lỗ hổng của pháp luật và những hệ lụy cho nền kinh tế

(Pháp lý) – Vừa qua, thông tin về Tập đoàn FLC có bước phát triển “thần tốc” khi chỉ trong 6 năm (từ 2009 – 2015) Tập đoàn này đã tăng vốn từ 18 tỷ đồng lên tới 3.748,9 tỷ đồng đã thật sự làm không ít người bị “choáng” và đặt nghi vấn. Đằng sau sự tăng trưởng thần tốc đó, một số chuyên gia đã phát hiện không chỉ riêng FLC mà hiện nay không ít DN đang sở hữu chéo lẫn nhau. Vậy FLC nói riêng và các DN khác sở hữu chéo nhằm mục đích gì? Có tạo tiền lệ xấu cho nền kinh tế? Pháp luật có lỗ hổng gì không trong điều chỉnh thực tế này? Phóng viên Pháp lý sẽ cùng các chuyên gia pháp lý phân tích sâu về những vấn đề này. 

Từ sự tăng vốn chóng mặt “bất thường” của FLC

Có lẽ, trong thời gian qua, khi nhắc tới Tập đoàn FLC người ta vẫn nhắc về một Tập đoàn tư nhân có tốc độ tăng trưởng đến chóng mặt. Theo thông tin được các phương tiện truyền thông đề cập Tập đoàn FLC có tốc độ phát triển “nhanh thần tốc” khi chỉ trong 6 năm (từ 2009 – 2015) Tập đoàn này đã tăng vốn từ 18 tỷ đồng lên tới 3.748,9 tỷ đồng và tăng gấp 208 lần. Điều này đã khiến không ít chuyên gia kinh tế phải “choáng”.

Chỉ trong 6 năm (từ 2009 - 2015) Tập đoàn FLC đã tăng vốn từ 18 tỷ đồng lên tới 3.748,9 tỷ đồng
Chỉ trong 6 năm (từ 2009 – 2015) Tập đoàn FLC đã tăng vốn từ 18 tỷ đồng lên tới 3.748,9 tỷ đồng

Nói về tốc độ tăng trưởng “thần kỳ” của FLC, Thạc sỹ, Luật sư Lê Văn Trung, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á phân tích: Cá nhân tôi thấy điều này thật sự là “quá khủng” đối với Tập đoàn FLC, chỉ trong 6 năm mà tăng vốn gấp 208 lần thì không phải điều dễ dàng làm tôi tin. Đặc biệt, trong 6 năm qua là những năm mà nền kinh tế đang đang gặp nhiều khó khăn, giá cổ phiếu thì lao dốc, bất động sản đóng băng, nhiều Ngân hàng phải bán với giá 0 đồng… các Tập đoàn khác làm ăn thua lỗ, trụ được thời gian qua đã vô cùng vất vả, chưa thể nói đến chuyện tăng trưởng và phát triển. Thế mà, Tập đoàn FLC lại thể hiện một xu hướng ngược lại, đó là không ngừng mở rộng, tăng vốn “khủng” đến khó tin. Nếu lấy mốc khởi điểm là năm 2008 để so sánh thì bình quân mỗi tháng vốn của Tập đoàn này tăng gần 3 lần, mỗi năm tăng khoảng 35 lần, một con số quá ấn tượng cho bất kỳ ai làm kinh doanh.

Sự tăng trưởng của Tập đoàn FLC này, theo tôi chỉ có trong giấc mơ thôi, ngay cả tượng tưởng cũng không ai dám nghĩ tới chứ nói gì ngoài thực tế rất khó có Tập đoàn nào thực hiện được. Lúc đầu tôi xem những thông tin này tôi cứ nghĩ rằng có sự nhầm lẫn gì ở đây hoặc có sự đưa tin quá lên để thu hút người xem. Nhưng nếu Tập đoàn FLC thực hiện được trong thực tế thì quả là quá “khủng”, một điều đáng “khủng” hơn ở đây nữa là sự tăng trưởng “thần tốc” này lại kéo dài liên tục qua nhiều năm chứ không phải một hai năm. Phải chăng Tập đoàn FLC đang có một phép màu nhiệm “hô vốn vốn đến, hô tiền tiền ra” thì mới làm được điều kỳ diệu đến như vậy.

Một vấn đề khác cũng khiến dư luận xôn xao về Tập đoàn này, theo Thời báo Tài chính Việt Nam, năm 2013, doanh thu hoạt động tài chính của FLC chỉ là 60,1 tỷ đồng và hoạt động ủy thác đầu tư mới có 7 khoản, trị giá 349,62 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong báo cáo tài chính hợp nhất của FLC năm 2014, các khoản ủy thác đầu tư đã tăng vọt lên 1.745,55 tỷ đồng. Bình luận về thông tin này, Thạc sỹ Lê Văn Trung nêu quan điểm: Theo số liệu trên thì ủy thác đầu tư của năm sau cao hơn năm trước là hơn 5 lần. Nếu đem hai con số tăng trưởng vốn một năm là 35 lần này so sánh với ủy thác đầu tư tăng 5 lần thì ta cảm thấy bình thường, thậm chí còn quá nhỏ. Nhưng nếu đem số tiền ủy thác đầu tư ở năm sau để mà so sánh với ủy thác đầu tư năm trước thì ta cảm thấy nhiều điều “lạ” trong đó. Muốn  lý giải được thì cần xem các khoản đầu tư này của Tập đoàn FLC có bao nhiêu trong năm 2014 và quy mô của những khoản này thì có thể so sánh được giữa con số thực tế và con số trên sổ sách đã được đưa ra.

Điều “lạ” ở đây là tại sao Tập đoàn FLC lại thực hiện ủy thác đầu tư tăng vọt như vậy trong năm 2014, trong khi theo báo cáo lưu chuyển tiền tệ của công ty mẹ FLC, dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2014 là âm (-) 450,13 tỷ đồng, cho ta thấy có sự mâu thuẫn rất khó lý giải ở đây. Ủy thác đầu tư có phải một hướng đầu tư mới mà các tổ chức khác không phát hiện được hay chưa nhìn nhận ra sự thuận lợi và lợi ích của nó? Theo tôi được biết thì việc ủy thác đầu tư chẳng có gì lạ bởi từ trước đến nay các doanh nghiệp, Tập đoàn thực hiện ủy thác đầu tư đã làm rất nhiều trong thực tế.

Còn Luật sư Nguyễn Văn Kiệm cho rằng: FLC là Công ty đại chúng và đã niêm yết trên thị trường chứng khoán. Mọi số liệu phải căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố. Số liệu trích dẫn trên lấy từ Thời báo tài chính Việt Nam mặc dù qua số liệu có nhiều bất thường nhưng những thông tin, dữ liệu trên không có cơ sở để đánh giá, xem xét một cách khách quan, chính xác.

…Đến những bất thường về sở hữu chéo trong DN

Nhìn vào những con số tăng vốn khủng đến việc FLC thành lập rất nhiều các công ty con, công ty liên kết…nên có ý kiến cho rằng, FLC đang sở hữu chéo?

Vậy sở hữu chéo ở DN là như thế nào? Trả lời cho vấn đề này, một chuyên gia lý giải, sở hữu chéo có nghĩa, các công ty sở hữu một tỷ lệ nhất định cổ phần của nhau, rồi lại cùng tham gia sở hữu những công ty khác, mà có thể gọi chính xác là “thâu tóm” hợp pháp qua con đường mua bán cổ phiếu công khai, nên việc phát hành cứ như ma trận. Vốn càng to, ma trận càng phức tạp.

Mô phỏng tương đối về các mối quan hệ và hoạt động đầu tư tài chính của FLC theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2014 (ảnh: Thời báo Tài chính Việt Nam)
Mô phỏng tương đối về các mối quan hệ và hoạt động đầu tư tài chính của FLC theo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2014 (ảnh: Thời báo Tài chính Việt Nam)

Luật sư Kiệm thông tin thêm: Việc thành lập các Công ty con, Công ty liên kết thì thực hiện theo Luật doanh nghiệp, việc sở hữu chéo là có, điều quan trọng là đúng luật, một cá nhân/pháp nhân có thể có cổ phần/phần vốn góp ở nhiều doanh nghiệp khác nhau là bình thường. Đương nhiên trong kinh doanh thì việc cạnh tranh, thâu tóm thông qua nhiều cách thức là chuyện bình thường trên thương trường. Điều quan trọng là việc thành lập mới, góp vốn, tăng vốn đó có thực chất hay không mới là vấn đề. Ở Việt Nam hiện nay, việc thành lập các doanh nghiệp mới chủ yếu là vốn ảo, vốn cam kết, góp trên giấy chứ thực chất không có góp vốn trên thực tế như đăng ký. Việc này dẫn đến méo mó, dối trá/lừa lọc trong hoạt động kinh doanh. Đối với FLC cũng vậy, cần phải xem việc tăng vốn này có thực chất hay chỉ ảo, từ đó mới có thể nói bất thường hay không bất thường.

Còn Luật sư Trung lại cho rằng với cách thức hoạt động sở hữu chéo nên FLC mới tăng vốn nhanh và “khủng” như vậy được. Từ các thông tin đưa ra về Tập đoàn FLC cho thấy, ở đây không đơn thuần là huy động vốn một cách bình thường, mà trong đó có sự mua bán, chuyển nhượng, đẩy giá trị DN lên một cách bất thường. Sự “tung hô” giá này đã đẩy vốn lên cao chứ vốn thực chất cũng không biết có là bao nhiêu và nhiều khả năng phần lớn là vốn ảo. Hãy hình dung một sự đẩy giá trị như thế này, công ty A đầu tư 60 tỷ thành lập công ty B, rồi chuyển nhượng 30% cổ phần công ty B này cho công ty C là 50 tỷ, đến lượt công ty C lại chuyển nhượng cho công ty D với 10% với giá 20 tỷ. Như vậy, ta thấy giá của công ty B sau lần chuyển nhượng đầu lên khoảng 160 tỷ, đến lần chuyển nhượng thứ hai này đã đạt mức 200 tỷ từ 60 tỷ ban đầu. Cứ như vậy sự chuyển nhượng này sẽ đẩy giá lên cao một cách bất thường mà không có sự kiểm soát. Còn giữa các công ty A, B, C, D này thực chất là các công ty con, công ty liên kết tức có “quan hệ” với nhau. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa những “người trong nhà” với nhau thì giá bao nhiêu chẳng được. Pháp luật hiện hành không cấm việc mua bán, chuyển nhượng và cho phép các bên được phép thỏa thuận về giá nên việc sở hữu chéo mặc nhiên thỏa sức tung hoành mà không bị bất cứ rào cản nào cả.

Tạo tiền lệ xấu cho nền kinh tế?

Vấn đề sở hữu chéo trước đây người ta chỉ hay dùng để nói về vấn đề sở hữu chéo ở các ngân hàng, song thời gian qua, vấn đề sở hữu chéo ở DN đang đặt ra nhiều thách thức cho các cơ quan quản lý nhà nước và có thể tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế.

Lý giải về những hệ lụy có thể xảy ra khi các DN đang sở hữu chéo lẫn nhau, Luật sư Lê Văn Trung phân tích: Với việc sở hữu chéo như vậy sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ và rủi ro cao cho nền kinh tế. Trước hết, nó sẽ làm phát sinh hiện tượng làm hình thức hóa vai trò của đại hội cổ đông trong quyết định phương hướng kinh doanh. Đây là vấn đề lớn nhất mà sở hữu chéo có thể gây ra. Bởi khi công ty A có quyền chi phối đối với công ty B thì họ cũng muốn chi phối sao cho công ty B thực hiện những phương hướng kinh doanh có lợi nhất cho công ty mình. Tiếp theo là về kế toán, do sở hữu chéo cổ phần của các công ty có hiệu quả kinh doanh thấp, cổ phiếu nắm giữ xuống giá là tác nhân buộc nhiều công ty phải sử dụng lợi nhuận để bù lỗ phát sinh do nắm giữ cổ phần chéo; nói cách khác để xảy ra tình trạng không hạch toán kế toán đầy đủ và chính xác các chi phí để duy trì sở hữu chéo.

 Luật Doanh nghiệp 2014 đang bỏ ngỏ vấn đề “sở hữu chéo Doanh nghiệp”

Luật Doanh nghiệp 2014 đang bỏ ngỏ vấn đề “sở hữu chéo Doanh nghiệp”

Hiện tại thì trong hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tín dụng còn có những quy định liên quan đến vấn đề sở hữu chéo, nhưng khái niệm về sở hữu chéo thì cũng chưa được văn bản nào quy định cụ thể.Trong thực tiễn, vấn đề sở hữu chéo hiện nay trong lĩnh vực tín dụng đang rất được quan tâm, quản lý và kiểm soát chặt chẽ. Ngược lại, trong hệ thống luật doanh nghiệp Việt Nam mặc dù cũng chưa có quy định nào về “sở hữu chéo”, nhưng lại không được quan tâm và hiện nay đang tồn tại rất phổ biến. Vấn đề sở hữu chéo này là khái niệm còn rất mới trong doanh nghiệp ở nước ta. Khái niệm sở hữu chéo đã được quy định trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới, thậm chí còn rất phổ biến và có những điều khoản riêng điều chỉnh vấn đề này. Từ những năm 1981, Luật thương mại Nhật Bản đã có quy định về sở hữu chéo giữa các công ty. Điều này cho thấy, vấn đề sở hữu chéo không lâu nữa cũng sẽ được quy định chi tiết trong hệ thống pháp luật của nước ta, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

Kiến nghị

Đề cập tới giải pháp nhằm quản lý tốt hơn vấn đề sở hữu chéo này ở DN, Thạc sỹ Trung cho rằng, trước tiên các cơ quan nhà nước muốn quản lý tốt hơn về vấn đề sở hữu chéo ở các doanh nghiệp thì văn bản pháp luật phải quy định để điều chỉnh về vấn đề này. Hiện nay các văn bản pháp quy của nước ta chưa có văn bản nào nêu ra khái niệm sở hữu chéo là gì mà chỉ có những quy định liên quan để hạn chế sở hữu chéo tại các tổ chức tín dụng. Do đó, việc ban hành văn bản quy định chi tiết về vấn đề “sở hữu chéo” ở các DN là hết sức cần thiết để điều chỉnh những quan hệ của nó. Tiếp theo nữa là cần có những quy định chi tiết cấm công ty con sở hữu cổ phần của công ty mẹ, trừ những trường hợp đặc biệt. Quy định này ta có thể học hỏi, tham khảo pháp luật của một số nước đi trước đã có quy định về vấn đề này để vận dụng vào Việt Nam, trong trường hợp nào thì được xem là trường hợp đặc biệt để cho phép công ty con sở hữu cổ phần của công ty mẹ. Luật doanh nghiệp cũng cần quy định cấm thực hiện quyền biểu quyết của cổ đông là công ty sở hữu chéo ngược chiều trong trường hợp sở hữu chéo có dấu hiệu chi phối thực chất. Với việc quy định này sẽ hạn chế được hiện tượng làm hình thức hóa vai trò của đại hội cổ đông trong quyết định phương hướng kinh doanh, vấn đề mà sở hữu chéo gây ra nhiều hệ lụy nhất cho xã hội. Cuối cùng là luật cấm độc quyền gián tiếp tác động quan hệ sở hữu chéo cổ phần thông qua quy định về giới hạn sở hữu và nghĩa vụ báo cáo nhằm kiểm soát tình trạng độc quyền. Nếu không có quy định này thì hiện tượng thâu tóm và độc quyền sẽ diễn ra mà không thể kiểm soát được.

Còn Luật gia Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP. Hồ Chí Minh cho rằng, trước hết cần có những quy định pháp luật liên quan đến vấn đề sở hữu chéo DN như định nghĩa như thế nào là sở hữu chéo, phân loại như thế nào… vì sở hữu chéo là một vấn đề rất phức tạp và không chỉ đơn giản có sở hữu trực tiếp. Ngoài ra, tại Điều 212 Luật Doanh nghiệp 2014 có quy định:

“Các công ty không có cổ phần hoặc phần vốn góp do Nhà nước nắm giữ thực hiện góp vốn, mua cổ phần trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 không phải thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 189 của Luật này nhưng không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo”

Như vậy, cũng cần có những quy định hướng dẫn như thế nào là “không được tăng tỷ lệ sở hữu chéo”, là về tỷ lệ số lượng giao dịch hay tăng về tỷ lệ giá trị tiền/vốn của các giao dịch góp vốn, mua cổ phần đã thực hiện mới rõ ràng hơn cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, các quy định về công bố thông tin cũng cần được siết chặt và xử lý mạnh tay hơn để đảm bảo sự minh bạch, đảm bảo cho quyền lợi của nhà đầu tư và sự ổn định của thị trường chứng khoán.

Luật sư Nguyễn Văn Kiệm cũng đưa ra giải pháp để kiểm soát và quản lý tốt vấn đề sở hữu chéo ở DN hiện nay. Đối với Doanh nghiệp không phải lĩnh vực tài chính/Ngân hàng như đã nói ở trên thì không thể ngăn chặn được việc sở hữu chéo bằng các biện pháp hành chính hay công cụ luật pháp khác được bởi quyền góp vốn, mua cổ phần không thể bị hạn chế vì nó xâm phạm đến nguyên tắc tự do kinh doanh. Để hạn chế/ngăn ngừa các tác động/tiền lệ không tốt từ việc sở hữu chéo thì phải hoàn chỉnh các cơ chế pháp luật trong lĩnh vực đấu thầu, cạnh tranh, chống độc quyền để làm sao hạn chế tối đa những tác động xấu từ vấn đề sở hữu chéo đến các lĩnh vực trên.

Việc này là một việc khó, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu nghiêm túc, tỷ mỷ, tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển để hoàn thiện cơ chế luật pháp thì mới có thể giảm thiểu, ngăn ngừa những tác động xấu từ vấn đề sở hữu chéo”, Luật sư Kiệm nói.

Lạc Sơn (thực hiện)