Từ thực tiễn tố tụng một số vụ án hình sự gây bức xúc dư luận, góp ý hoàn thiện Bộ luật TTHS (Bài 2): Siết chặt hơn quy định về thời hạn và trách nhiệm trong tố tụng

(Pháp lý) – Tố tụng kéo dài gây ra không ít hệ lụy đối với hoạt động tư pháp nói riêng và xã hội nói chung. Có nhiều nguyên cớ gây ra hiện tượng này như việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, giám định lại, hoãn tòa… diễn ra quá nhiều lần. Vậy làm sao để khắc phục thực trạng này? Nên chăng phải bắt đầu bằng những quy định chặt chẽ hơn trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) gắn với trách nhiệm pháp lý của người tiến hành tố tụng?

>> Bài 1: Quy định về cách thức tạo lập tài liệu trong hồ sơ vụ án còn khá lỏng lẻo

Tố tụng lòng vòng và những hệ lụy

Một vụ án tiêu biểu cho sự kéo dài lê thê của tố tụng và chưa đến hồi kết là vụ Lại Hồng Văn bị khởi tố, truy tố về tội dâm ô đối với trẻ em tại TP.HCM. Văn là dượng của cháu TTHC (SN 2003, con gái chị vợ Văn). Tháng 11/2012, nghe cháu C. kể bị Văn nhiều lần dâm ô, mẹ cháu tố cáo đến công an phường. Vụ án này không có nhân chứng, thời điểm xảy ra sự việc (2008) cháu C. mới 5 tuổi nhưng đến năm 9 tuổi thì cháu mới kể lại cho mẹ nghe. Hồ sơ vụ án không có các biên bản khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra hiện trường, những địa điểm xảy ra việc dâm ô theo lời cháu C. kể không còn tồn tại trên thực tế. Chứng cứ non nớt mà đã vội vàng khởi tố bị can nên dẫn đến việc cơ quan điều tra 4 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung và TAND quận 9 đã bốn lần trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng cơ quan điều tra không thu thập được thêm chứng cứ gì mới để buộc tội.

Vụ án Thái Lương Trí kéo dài gây bức xúc trong dư luận (ảnh: Bị cáo Thái Lương Trí tại Tòa)
Vụ án Thái Lương Trí kéo dài gây bức xúc trong dư luận (ảnh: Bị cáo Thái Lương Trí tại Tòa)

Một ví dụ khác về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần dẫn đến vòng tố tụng luẩn quẩn là trong một vụ án xảy ra tại Đồng Nai. Ở vụ án này, cơ quan điều tra đã lúng túng khi xác định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo, nên vụ án mãi chưa tới hồi kết. Theo hồ sơ, năm 2007 chủ đầu tư dự án Siêu thị Metro Biên Hòa thỏa thuận bồi thường cho các hộ dân, trong đó có ông Xuyên. Ông Xuyên gian lận để được bồi thường. Vậy mà, Công an tỉnh Đồng Nai lại xác định và đã khởi tố ông Xuyên về hành vi vi phạm các quy định về sử dụng đất đai. Tháng 8/2010, ông Xuyên bị đổi sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Từ tháng 9/2011 đến tháng 7/2012, TAND tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần xét xử vụ án nhưng đều trả hồ sơ để điều tra bổ sung, vụ việc cứ bị đẩy đi, đẩy lại vì những lúng túng trong xác định tội danh của bị cáo.

Một vụ án khác trước đây Pháp lý từng phản ánh là vụ án “siêu lừa” Thái Lương Trí. Vụ án được dư luận và cả các cơ quan ban ngành TW  đặc biệt quan tâm, không chỉ vì đó là vụ kiện tụng giữa các ông chủ, bà chủ đứng đầu các tập đoàn kinh tế, mà còn vì sự “chây ì” trong việc giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án nhiều năm gây thiệt hại không nhỏ cho các bị hại là chủ doanh nghiệp nói riêng và thiệt hại gián tiếp cho hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Thái Dương và Công ty TNHH Thiên Phú nói chung. Tài sản bị lừa đảo chiếm đoạt rất nhiều năm chưa lấy lại được, công việc làm ăn kinh doanh thì đình trệ, không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người lao động trong doanh nghiệp mà còn vô hình chung ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước.

Kéo dài thời hạn tố tụng do sự yếu kém của các cơ quan tiến hành tố tụng còn khiến ngân sách nhà nước bị ảnh hưởng. Vụ án sau là một minh chứng: Đang sửa xe cho khách, anh Trần Hoàng Minh (xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP HCM) bị bắt để điều tra ở một tội ít nghiêm trọng, nhưng do bị gia hạn điều tra nhiều lần nên anh Minh bị tạm giam 6 tháng. Khi TAND huyện Cần Giờ đưa vụ án ra xét xử nhưng do chứng cứ có nhiều điểm mâu thuẫn nên tòa trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Xuyên suốt quá trình điều tra, anh Minh đều khẳng định mình bị oan. Đạt và nhân chứng vụ án cũng khai rằng tại thời điểm xảy ra vụ việc, anh Minh đang sửa xe cho khách tại tiệm sửa xe do mình làm chủ. VKSND huyện Cần Giờ đã ra quyết định đình chỉ vụ án. Từ đó đến nay, anh Minh liên tục có đơn khiếu nại đến VKSND TP HCM và VKSND Tối cao. Do đã bắt người tạm giam oan sai, nên nếu phải bồi thường lại là ngân sách nhà nước.

Siết chặt hơn quy định về thời hạn tố tụng

Trước những vụ án mà hành trình tố tụng kéo dài lê thê do việc trả hồ sơ điều tra bổ sung, gia hạn điều tra, chờ xét xử, hoãn phiên tòa diễn ra nhiều lần… Thạc sĩ, Luật gia Dương Đình Khuyến – Phó Tổng Thư kí, Trưởng Ban Tư vấn pháp luật và Trợ giúp pháp lý của Hội Luật gia Việt Nam phân tích: Tâm lý thông thường của Cơ quan điều tra là cố điều tra để tìm bằng được chứng cứ buộc tội, củng cố cho quyết định khởi tố trước đó. Đôi khi xảy ra trường hợp chứng cứ buộc tội yếu thì họ gia hạn điều tra để tìm thêm chứng cứ, khi cố gửi hồ sơ lên cấp trên thì bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung… Nhiều lần như vậy sẽ dẫn đến việc hồ sơ vụ án chuyển qua lại giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này đặt ra vấn đề cần có quy định hạn chế số lần gia hạn điều tra, trả hồ sơ điều tra bổ sung. Khi hết số lần theo luật định mà không chứng minh được tội phạm thì phải đình chỉ vụ án.

Trăn trở về vấn đề thời hạn tố tụng các vụ án, ông Vũ Đức Khiển – Nguyên Chủ nhiệm UBPL của Quốc hội từng chia sẻ với Phóng viên Pháp lý: Thực tế không ít vụ án thể hiện sự ì ạch của các cơ quan tư pháp dẫn đến việc “câu dầm”, “ngâm án” làm thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp. Tôi cho rằng để tố tụng vụ án kéo dài là do các cơ quan tố tụng làm thiếu trách nhiệm. “Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự phải sửa đổi và quy định chặt chẽ để hạn chế mức thấp nhất các vụ việc phải trả lại hồ sơ, siết chặt các quy định về trách nhiệm của các cán bộ trong các khâu tố tụng. Nếu trả lại hồ sơ thì các cá nhân thực hiện công việc trước mà bị trả lại phải bị chế tài xử lý”.

Đồng thời theo ông Khuyến: Theo quy định tại dự thảo của BLTTHS (sửa đổi) thì VKS có vai trò giám sát từ khi có tin báo tội phạm. Điều đó có nghĩa là song hành với tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì có sự giám sát của Viện kiểm sát. Vì vậy, quy định VKS có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung là nên hay không? Theo tôi, không nên cho Viện kiểm sát có quyền này vì nó có thể dẫn đến việc chủ quan, sơ sài của kiểm sát viên trong quá trình giám sát tiến trình tố tụng một vụ án?

Theo quan điểm của ông Khuyến, việc tố tụng vụ án hình sự kéo dài sẽ không chỉ gây bức xúc trong nhân dân, mà còn gây thiệt hại về kinh tế cho cá nhân, tổ chức và cho cả nhà nước. Về phần thiệt hại cho nhà nước, ông Khuyến dẫn giải: Ví dụ rõ ràng nhất là trong các vụ án mà bị can, bị cáo đã bị tạm giam thì việc gia hạn điều tra có thể dẫn đến hậu quả là bị can, bị cáo bị tạm giam, gia hạn tạm giam trong thời gian quá dài. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người được quy định và bảo vệ trong Hiến pháp 2013 mà còn khiến nhà nước phải bỏ tiền bồi thường nếu có oan sai (Quy định tại Luật bồi thường nhà nước còn bất cập, đó là tiền bồi thường cho oan sai lấy từ ngân sách nhà nước – PV).

Là người từng tham gia một số hội thảo góp ý cho BLTTHS (sửa đổi), ông Khuyến cho rằng: Tôi đồng tình với nhiều quan điểm của Ban soạn thảo BLTTHS (sửa đổi), nhưng theo tôi vẫn cần siết chặt hơn nữa quy định về thời hạn tố tụng để ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Cụ thể, ông Khuyến đề xuất về thời hạn chuẩn bị xét xử tại tòa: Trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử với tội phạm ít nghiêm trọng là 15 ngày, 2 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, 3 tháng với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án. Sau thời hạn này mà vụ án chưa được xét xử thì lại có thể tiếp tục được gia hạn không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, ba mươi ngày với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng… Như vậy nếu vận dụng các quy định này thì thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể kéo dài 1 tháng, tội phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng có thể kéo dài từ 2 đến 4 tháng.

Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử trong dự thảo BLTTHS (sửa đổi) là 2 tháng kể tử ngày thụ lý vụ án và được gia hạn thêm 30 ngày đối với vụ án phức tạp, rồi lại chờ 15 ngày đưa vụ án ra xét xử… Như vậy, nếu vận dụng quy định này thì một vụ án chờ để được xét xử phúc thẩm thì thời hạn kéo dài gần 4 tháng… Thời hạn quy định như vậy còn quá dài. Để giải quyết triệt để những bất cập hiện nay thì những quy định mới của BLTTHS (sửa đổi) nên siết chặt điều này.

Việc kéo dài thời hạn tố tụng khi xảy ra oan sai nhà nước phải bồi thường (Trong ảnh là anh Trần Hoàng Minh, người kêu oan trong một vụ cướp và đang đi đòi bồi thường vì bị tạm giam hơn 6 tháng).
Việc kéo dài thời hạn tố tụng khi xảy ra oan sai nhà nước phải bồi thường (Trong ảnh là anh Trần Hoàng Minh, người kêu oan trong một vụ cướp và đang đi đòi bồi thường vì bị tạm giam hơn 6 tháng).

Đồng thời với các quy định trên, quy định Tòa được phép thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết, trong các trường hợp có yêu cầu của người tham gia tố tụng sẽ góp phần giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng luật…. Điều này sẽ là yếu tố góp phần thúc đẩy giải quyết vụ án một cách nhanh chóng.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định” đồng thời “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật”. Bởi vậy, giải quyết vấn đề thời hạn tố tụng một vụ án hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân và là tín hiệu tích cực của nền tư pháp văn minh, hiện đại.

Phan Tĩnh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *