Từ “bong bóng” thị trường chứng khoán Trung Quốc: Chuyên gia kiến nghị “bít”những lỗ hổng trong quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam

(Pháp lý) – Thị trường chứng khoán Trung Quốc giống như một quả bóng đã được bơm đầy hơi và sức chịu đựng của vỏ quả bóng đã đến giới hạn của nó. Do đó, việc quả bóng này cần gia cố vỏ để chịu đựng, chịu để cho nó nổ hay phải xả bớt hơi ra là điều sớm muộn phải xảy ra. Đây là một sự kiện lớn và nóng của thế giới, nhưng do nó nằm vào thời điểm thế giới đang có rất nhiều sự kiện xảy ra, nên bị lu mờ. Tuy nhiên với riêng Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua được sự kiện này, mà cần thiết phải xem đó là bài học, tìm ra, “bít” những lỗ hổng trong quản lý thị trường này. Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với hai chuyên gia am hiểu về pháp luật chứng khoán.

Điều gì khiến không ít đại gia chứng khoán ở Việt Nam dính vòng lao lý?

Ở Việt Nam thời kỳ đầu, người ta cũng dễ dàng nhận ra rất nhiều đại gia mới xuất hiện hoành tráng với những dự án lớn hàng ngàn tỷ. Nhưng về sau, khi thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán lao dốc cùng với sự vỡ lở những trục trặc của hệ thống ngân hàng… trở thành nguyên nhân chính nhấn chìm những doanh nghiệp lớn mạnh nhanh hay những cú vỡ nợ, lừa đảo của những đại gia hoành tráng.

Đa phần nhiều doanh nhân phát triển doanh nghiệp của mình rất nhanh dựa trên nguyên tắc đòn bẩy tài chính, vay vốn ngân hàng một tỷ lệ rất cao để đầu tư nóng cho hoạt động kinh doanh của mình để rồi vỡ nợ và rơi vào tình cảnh bi đát. Trên thực tế, nhiều nhà quản lý, các chuyên gia đã cảnh báo tình trạng tiền ảo, mối quan hệ lằng nhằng, sở hữu chéo chằng chịt, hệ thống công ty con như mạng nhện… của nhiều đại gia mà mục đích là để làm tăng quy mô, tăng khả năng vay tiền ngân hàng để làm giàu nhanh.

Cùng với đó, sự phát triển của nhiều hình thức huy động vốn mới, nhiều sản phẩm chứng khoán mới… đã giúp cho những người có trình độ nhưng có dã tâm tận dụng để thu lợi nhanh chóng cho mình rơi vào những sai phạm không thể tránh khỏi.

Đại gia Lê Văn Hướng bị bắt tạm giam khiến cổ phiếu JVC bốc hơi ngàn tỷ
Đại gia Lê Văn Hướng bị bắt tạm giam khiến cổ phiếu JVC bốc hơi ngàn tỷ

Mới đây, một đại gia chứng khoán cũng cuốn vào vòng xoáy lao lý, chính là đại gia Lê Văn Hướng, Nguyên Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Thiết bị Y tế Việt Nhật (JVC) vừa bị bắt tạm giam. Ngay sau khi thông tin đại gia Hướng bị bắt được lan truyền trên các phương tiện truyền thông khiến thị trường chứng khoán Việt rúng động với nhiều cổ phiếu bất ngờ giảm sàn hàng chục phiên. Riêng cổ phiếu JVC đã giảm tới 50%, tương đương với việc các cổ đông của DN này giảm hơn 1.270 tỷ đồng trong vòng đúng 2 tuần – một kỷ lục đáng buồn trên thị trường chứng khoán Việt. Việc cổ phiếu JVC giảm sàn liên tục với dư mua bằng 0 và dư bán có phiên lên tới 23 triệu đơn vị, tương đương 20% lượng cổ phiếu lưu hành của DN này. Đồng thời, chỉ trong thời gian ngắn, cổ phiếu JVC đã bốc hơi cả ngàn tỷ đồng gây chấn động các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam.

Nói về việc “bốc hơi” ngàn tỷ ở JVC, Thạc sỹ, Luật sư Lê Văn Trung, Trưởng phòng nghiệp vụ IV Công ty luật hợp danh Đông Nam Á cho rằng, trước tiên ta trao đổi về giá cổ phiếu của JVC giảm giá kinh hoàng trong thời gian qua là do có sự xuất hiện liên hoàn của một số sự kiện rời rạc đã được mọi người tự xâu chuỗi lại. Trước hết bản thân ông Lê Văn Hướng là một đại gia hàng đầu trong thị trường chứng khoán Việt Nam với tài sản hàng trăm tỷ đồng, cầm khoảng 13 triệu cổ phiếu của JVC và chiếm tới 11,85% vốn điều lệ tại JVC. Tiếp đến xuất hiện một tin đồn rằng JVC đang bị khiếu nại về một dự án ở Bình Định, tin đồn này mặc dù đến nay chưa biết được thế nào, thực hư, đúng sai và cũng chưa ai đứng ra khẳng định điều này. Nhưng tin đồn này đã gây tác động rất lớn đến tâm lý của những nhà đầu tư. Tiếp theo là thông tin ông Hướng đang bị tạm giam để phục vụ điều tra làm rõ một số sai phạm cá nhân được Công ty CP thiết bị Y tế Việt Nhật gửi Ủy ban chứng khoán nhà nước – Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM, Công văn số 17/2015-CCTT ngày 23 tháng 06 năm 2015. Những thông tin này đã làm nhà đầu tư lo ngại và họ đã xâu chuỗi lại cho rằng JVC “đang có vấn đề”. Nhà đầu tư rất nhạy cảm với các thông tin liên quan, khi mất niềm tin ở nhà đầu tư thì giá cổ phiếu giảm là điều không tránh khỏi.

Cùng chung quan điểm, TS. Nguyễn An, Giám đốc Công ty Luật Cộng đồng cũng cho rằng, câu chuyện JVC, với phản ứng bắt đầu từ tin đồn, rồi đến phủ nhận của doanh nghiệp và cuối cùng là xác minh tin đồn là một tiền lệ xấu. Không phải ai cũng được tiếp cận tin đồn sớm để bán ra vào phiên cổ phiếu JVC giảm sàn đầu tiên. Không phải ai cũng có thông tin để biết rằng, phủ nhận của doanh nghiệp thực ra là không đúng. Nhà đầu tư được khuyến cáo không nên ra quyết định đầu tư theo tin đồn, nhưng hết trường hợp này đến trường hợp khác, tin đồn lần lượt được xác minh là đúng.

Thị trường chứng khoán là thị trường được xây dựng dựa trên niềm tin. Tiếc rằng, đến tận bây giờ, khi thị trường đang phản ứng tiêu cực với JVC, khi niềm tin nhà đầu tư đang lung lay, thì họ lại chưa thấy một động thái nào (một cách rõ ràng) từ phía các cơ quan hữu quan trong việc bảo vệ họ.

Thấy gì từ bong bóng thị trường chứng khoán Trung Quốc?

Câu chuyện đại gia Việt dính vòng lao lý khiến thị trường chứng khoán trong nước chao đảo làm không ít chuyên gia kinh tế lo ngại. Tuy nhiên, nếu ở thời điểm này, nhìn sang thị trường chứng khoán Trung Quốc mới thấy quả bong bóng thị trường chứng khoán nước này đang căng phồng và có nguy cơ bị nổ tung bất cứ lúc nào. Vì sao lại có chuyện như vậy?

Trả lời cho câu hỏi này, TS. Nguyễn An cho rằng, thị trường chứng khoán Trung Quốc tăng tốc dữ dội kể từ cuối năm 2014. Do các quy định quản lý lỏng lẻo và sự cổ vũ ồ ạt của giới truyền thông, hàng triệu người dân Trung Quốc đã vét sạch tiền tiết kiệm và đi vay nợ để đầu tư vào chứng khoán.Giữa tháng 6, CSRC công bố các biện pháp thắt chặt quản lý giao dịch chứng khoán do lo ngại thị trường phát triển quá nóng và cú sụp đổ bắt đầu. Trong vòng chưa đầy một tháng, thị trường chứng khoán Thượng Hải vừa mất đến hơn 30% giá trị. Hơn 3.500 tỷ USD tan thành mây khói.

Nhiều người cho rằng hành động can thiệp quyết liệt của nhà nước vào thị trường chứng khoán vừa qua có thể là do Trung Quốc lo sợ về khả năng sụp đổ của nền kinh tế dẫn đến bất ổn xã hội. Lý do này khá thuyết phục nhưng không phải là lý do chính nếu biết rằng thị trường chứng khoán Trung Quốc chỉ đóng một vai trò khá khiêm tốn trong nền kinh tế nước này: Giá trị cổ phiếu được đưa ra mua bán trên thị trường chứng khoán Trung Quốc chỉ tương đương 1/3 GDP Trung Quốc, thấp xa so với mức 100% ở các nước phát triển. Chỉ chưa đến 15% tài sản tài chính của các hộ gia đình được đầu tư vào thị trường chứng khoán nên dù giá cổ phiếu có tăng mạnh cũng không làm tăng mức chi tiêu hộ gia đình và ngược lại. Tuy phần lớn vốn đầu tư vào chứng khoán là vốn ngân hàng nhưng dư nợ cho vay đầu tư chứng khoán chỉ chiếm 1,5% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

 Nỗi tuyệt vọng bao phủ thị trường chứng khoán Trung Quốc  (Ảnh: Reuters)

Nỗi tuyệt vọng bao phủ thị trường chứng khoán Trung Quốc (Ảnh: Reuters)

Bill Adams, chuyên gia kinh tế cấp cao của PNC Financial ở Pittsburgh nhận xét: “Thị trường chứng khoán của đất nước này (Trung Quốc) đóng vai trò nhỏ hơn trong nền kinh tế so với ở Mỹ, và ít có mối liên hệ hơn với các phần còn lại của nền kinh tế”.

Tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc không thể tránh khỏi những tác động xấu. Tác động trước tiên của bất cứ một cuộc đổ vỡ trên thị trường chứng khoán là chi tiêu bị cắt giảm ở quốc gia đó do tài sản đầu tư bị bốc hơi về giá trị và chủ sở hữu các cổ phiếu thấy mình nghèo đi nhiều nên buộc phải “bóp miệng” lại. Tuy giá trị của thị trường chứng khoán Trung Quốc chỉ bằng 1/3 GDP và chưa đến 15% tài sản tài chính của hộ gia đình được đầu tư vào thị trường chứng khóan, nhưng với quy mô khổng lồ của nền kinh tế nước này và tỷ lệ tiết kiệm cao của dân chúng thì tác hại của việc chứng khoán lao dốc ở nước này là không hề nhỏ nếu quy ra tiền.

Tác động tiêu cực từ cắt giảm chi tiêu, và bởi thế làm tăng trưởng GDP chậm lại, không chỉ dừng lại ở phạm vi lãnh thổ Trung Quốc mà sẽ lan rộng ra toàn cầu thông qua kênh thương mại; xuất khẩu từ một nước nào đó như Việt Nam vào Trung Quốc chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng theo nhu cầu nhập khẩu sụt giảm của Trung Quốc.

Chưa dừng ở đó, nhu cầu nhập khẩu sụt giảm của Trung Quốc sẽ châm ngòi cho sự lao dốc của các loại hàng hóa cơ bản như kim loại, quặng sắt, ngũ cốc, dầu mỏ, than đá v.v… Những nước trực tiếp xuât khẩu những mặt hàng này vào Trung Quốc sẽ là nạn nhân bị đẩy vào vòng suy thoái. Và sự suy thoái này đến lượt nó lại lây lan sang nhiều nước khác và lan ra toàn cầu theo những quan hệ ràng buộc chằng chịt về đầu tư và thương mại. Bối cảnh càng trở nên ảm đạm hơn khi châu Âu vẫn bất ổn với cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp còn Mỹ và Nhật vẫn còn đang trong quá trình phục hồi sau một giai đoạn dài trì trệ.

Còn Luật sư, Thạc sỹ Lê Văn Trung lại nhìn nhận bong bóng thị trường chứng khoán Trung Quốc ở một khía cạnh thận trọng hơn. Luật sư Trung cho rằng, thị trường chứng khoán Trung Quốc giống như một quả bóng đã được bơm đầy hơi và sức chịu đựng của vỏ quả bóng đã đến giới hạn của nó. Do đó, việc quả bóng này cần gia cố vỏ để chịu đựng, chịu để cho nó nổ hay phải xả bớt hơi ra là điều sớm muộn phải xảy ra. Đây là một sự kiện lớn và nóng của thế giới, nhưng do nó nằm vào thời điểm thế giới đang có rất nhiều sự kiện xảy ra và cũng đang được quan tâm như đe dọa vỡ nợ và ra khỏi EU của Hy Lạp, đối đầu kinh tế, chính trị giữa Nga và Châu Âu, đàm phán hạt nhân Iran, nhà nước tự xưng IS, dịch bệnh MER-COV… đã làm phai mờ đi vấn đề thị trường chứng khoán Trung Quốc. Sự kiện này không chỉ đánh tụt nền kinh tế đứng thứ hai thế giới mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Nếu thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ thì hệ lũy trước mắt là những nhà đầu tư mất vốn, nhà đầu tư ở đây có cả trong và ngoài nước. Điều này kéo theo hàng loạt doanh nghiệp phải đóng cửa và dừng hoạt động, người đầu tư mất vốn, người lao động mất việc làm. Không những thế mà lòng tin của những nhà đầu tư cũng bị xói mòn trầm trọng. Điều này sẽ làm trì trệ nền kinh tế Trung Quốc. Đầu tàu kinh tế Trung Quốc đối diện với vật cản và sắp sửa va vào nó. Trung Quốc không chỉ là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới mà còn là một “công xưởng” của thế giới. Một khi “công xưởng” này dừng hoạt động hay hoạt động chậm lại thì cũng kéo theo hàng loạt doanh nghiệp phụ thuộc khác dừng hay chậm hoạt động theo. Tùy theo mức ảnh hưởng của từng doanh nghiệp và từng nước đối với nền kinh tế Trung Quốc mà sự ảnh hưởng này tác động lên nước đó nhiều hay ít.

Kiến nghị “bít” những lỗ hổng trong quản lý thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Đề cập tới những giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt, Thạc sỹ Lê Văn Trung đưa ra lời giải. Bài học đầu tiên là Việt Nam không giống Trung Quốc nên không thể đầu tư ào ạt rồi để tình trạng chứng khoán tuột dốc không phanh. Với Trung Quốc thì họ có thể cứu được thị trường chứng khoán của họ nhưng với Việt Nam, nếu xảy ra điều tồi tệ với chứng khoán thì khó khăn hơn rất nhiều.

Bài học tiếp theo là Việt Nam cần có cơ chế đủ tính răn đe để kiểm soát thông tin nói chung và thông tin thị trường chứng khoán nói riêng. Khi một tổ chức, cá nhân đưa thông tin ra thì trung thực chưa đủ mà cần kiểm soát giới hạn thông tin đưa ra, phải được kiểm chứng tính trung thực của thông tin, đồng thời phải chịu trách nhiệm về thông tin này. Doanh nghiệp cũng cần thận trọng hơn khi cung cấp thông tin, chẳng hạn (trở lại vụ đại gia chứng khoán JVC), Công văn số 17/2015-CCTT ngày 23/06/2015 của Công ty CP Y tế Việt Nhật gửi Ủy ban chứng khoán nhà nước – Sở giao dịch chứng khoán TP. HCM là một bài học, bởi thông tin có thể bị hiểu sai lệch đi rất nhiều nếu bị sao chép nhiều lần. Hiện nay với sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin nên thông tin nhanh chóng đến với mọi người cho dù thông tin đó thế nào. Nhiều phần tử đã lợi dụng để trục lợi bất chính và cạnh tranh không lành mạnh. Nói cách khác chúng ta đang bị “hiệu ứng đám đông” rất mạnh, điều này đã và đang bị lợi dụng để trục lợi.

Thấy được thực tế tiêu cực này, Việt Nam cần có những cơ chế để minh bạch hóa thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán.

Qua sự việc thị trường chứng khoán Trung Quốc tuột dốc không phanh cho thấy các nhà đầu tư rất ít thông tin về cổ phiếu mà mình đã đầu tư. Họ không biết mình đầu tư cái gì và thậm chí không biết mình đầu tư vào đâu. Các thông tin hoàn toàn bị bưng bít cho đến khi vỡ lẽ ra thì đã trắng tay. Ngoài ra, Thạc sỹ Trung cũng cho biết thêm, nếu nói đến cơ chế thì đúng là ta thiếu một cơ chế để bảo vệ các nhà đầu tư, bảo vệ thông tin tránh gây tác động xấu tới thị trường chứng khoán hiện nay. Qua sự việc trên ta thấy, chỉ một tin đồn và một thông tin đưa ra còn chưa rõ ràng đã làm cho cả ngàn tỷ đồng giá trị vốn hóa bốc hơi. “Trước tiên cần có cơ chế đủ tính răn đe cho những ai tung tin đồn thất thiệt về thị trường chứng khoán. Hiện nay, Bộ luật Hình sự cũng đã có những quy định về vấn đề này nhưng tính răn đe chưa cao. Nếu không có cơ chế phù hợp thì đây sẽ là công cụ trục lợi cho một số đối tượng và sự cạnh tranh không lành mạnh của những đối thủ khác. Về bảo vệ và công bố thông tin của doanh nghiệp thì không phải thông tin gì doanh nghiệp cũng có thể công khai, còn liên quan đến bí mật kinh doanh của họ. Luật hiện nay cũng đã có những quy định về công khai thông tin doanh nghiệp, nhưng những quy định này còn nhỏ giọt và chưa đáp ứng được phần nào của nhà đầu tư. Do đó cũng cần có quy định doanh nghiệp cần phải công bố thông tin cần thiết đủ để nhà đầu tư nắm được thông tin”, Luật sư Lê Văn Trung nói.

Còn TS. Nguyễn An cho rằng, sự kiện thị trường chứng khoán Trung Quốc chao đảo mạnh từ mấy tuần nay nhắc nhở chúng ta về “tử huyệt” của một thị trường chứng khoán cho phép bán khống không có một cơ chế kiểm soát thích hợp.

Từ trường hợp của thị trường chứng khoán Trung Quốc, bài học rút ra cho Việt Nam không phải là rút ngay lại quy định cho phép bán khống chứng khoán đang được thai nghén cho ra đời để ngăn ngừa khả năng nó sẽ châm ngòi cho sự sụp đổ thị trường chứng khoán Việt Nam. Thay vào đó, song song với việc cho phép bán khống chứng khoán cần phải ban hành những quy định để khống chế bán khống khi một chứng khoán nào đó đang chịu áp lực mất giá mạnh, nhờ đó ổn định thị trường và duy trì lòng tin của nhà đầu tư.

Việc khống chế bán khống đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, ở Mỹ, có quy định rằng việc bán khống sẽ bị hạn chế với một chứng khoán nào đó (cả trong và ngoài sở giao dịch chứng khoán) nếu chứng khoán đó đã mất hơn 10% giá trị trong vòng 1 ngày so với giá cuối ngày giao dịch trước đó. Quy định này tạo điều kiện cho các “long seller” (mua trước – bán sau?) được xếp hàng trước những người bán khống để bán chứng khoán đó một khi điểm giới hạn bán khống được kích hoạt. Khi đó, bán khống chỉ được cho phép nếu giá của chứng khoán đó cao hơn giá chào mua hiện hành cao nhất trên toàn quốc.

Ủy ban chứng khoán Mỹ cho biết thêm rằng họ quy định vậy vì họ nhận thức được tác động hai mặt của bán khống (và vì thế hạn chế có điều kiện việc bán khống). Giải pháp này được nhìn nhận là đã tạo ra một cơ chế tự ổn định cho thị trường trong những giai đoạn đi xuống hoặc biến động mạnh.

Tóm lại, bên cạnh các quy định liên quan đến việc bán khống như hiện tại đang được đề xuất, Ủy ban chứng khoán Nhà nước nên cân nhắc và đưa thêm vào dự thảo Thông tư mới về hướng dẫn giao dịch chứng khoán với những điều khoản liên quan đến cơ chế kiểm soát bán khống chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi có những biến động bất lợi xảy ra nhằm ngăn chặn từ xa một trong những yếu tố có khả năng gây đổ vỡ cho thị trường trong tương lai. Hơn nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa ổn định. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần phải có những động thái trấn an giới đầu tư. Ủy ban chứng khoán Nhà nước phải có những thông tin chính xác nhất, minh bạch nhất về thị trường. Ngân hàng Nhà nước cần kiểm tra chặt chẽ các ngân hàng về việc tuân thủ quy định liên quan đến TTCK trong Thông tư 36/2014/NHNN.

Lạc Sơn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *