PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh – Phó VT Viện Chính trị học: Pháp trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong kiểm soát quyền lực và trị suy thoái

(Pháp lý) – “Vấn đề cấp bách về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở ta hiện nay đòi hỏi căn bản là phải nghiêm trị suy thoái. Nhưng muốn nghiêm trị suy thoái thì vấn đề căn bản là phải tăng cường pháp trị và kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ” – đó là ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh – Phó Viện trưởng Viện Chính trị học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) khi nói về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW khóa XII của Đảng, một Nghị quyết được đánh giá là có nhiều nội dung mới quan trọng và đề cao pháp trị trong Đảng.

 Quang cảnh Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Quang cảnh Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Tăng cường pháp trị trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Phóng viên: Tháng 10/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII đã ký ban hành chính thức Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Xin ông cho biết những nội dung quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đề cập trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII?

PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh: Là người nghiên cứu nhiều Nghị Quyết của Đảng, tôi nhận thấy Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã xác định rõ những nội dung chính sau đây: Thứ nhất, làm rõ tình hình và nguyên nhân (nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan) của tình trạng suy thóa về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Thứ hai, nhận diện những biểu hiện suy thóa về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Có 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Thứ ba, xác định rõ mục tiêu và quan điểm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Từ đó, Nghị quyết xác định rõ và cụ thể các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình (có 10 giải pháp); Về cơ chế, chính sách(có 6 giải pháp); Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng (có 8 giải pháp); Về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội (có 5 giải pháp).

Là người nghiên cứu nhiều Nghị quyết của Đảng, ông có thể cho biết so với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII này có gì mới?

PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh – Phó Viện trưởng Viện Chính trị học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) trả lời phỏng vấn TCPL
PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh – Phó Viện trưởng Viện Chính trị học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) trả lời phỏng vấn TCPL

Nếu Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” mới xác định “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, thì đến Nghị quyết TW4 khóa XII đã cụ thể hóa, nêu rõ những biểu hiện: Có 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ đó, những nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết TW 4 khóa XII đưa ra cũng cụ thể hơn, dáo diết và mạnh mẽ hơn.

Dư luận chung trong Đảng và trong nhân dân vui mừng đón nhận, mong muốn tìm thấy trong Nghị quyết này nhiều cái mới, cả lời giải thuyết phục cho những điều bức xúc hiện nay. Nghiên cứu và quán triệt sâu sắc Nghị quyết này, sẽ thấy những cái mới cụ thể sau đây:

Thứ nhất, cái mới được thể hiện ở ngay chủ đề của Nghị quyết: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Với chủ đề này, Nghị quyết Trung ương 4 lần này không những thể hiện một cách nghiêm túc mà còn rất sáng tạo, có tính cập nhật cao đối với trọng tâm số 1 mà Đại hội XII đã chỉ ra. Trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong nhiệm kỳ Đại hội XII (2016 – 2020), nhiệm vụ trọng tâm số 1 là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đây là Nghị quyết đầu tiên của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng Đảng và cũng là nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng.

Thứ hai, điểm mới được thể hiện rõ nét và rất tập trung ở nội dung của Nghị quyết. Điểm mới này được thể hiện rất rõ ở lời phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XII : Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra rất cụ thể, rõ ràng và có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: (27 biểu hiện: 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ – như Nghị quyết đã nêu). Trong các biểu hiện đó, Nghị quyết nhấn mạnh rằng: nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống còn thể hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, tham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn bức xúc của dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra cho chúng ta những nhận diện khá đầy đủ, sắc nét về thực trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta là: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhận diện đúng là để qua đó mỗi cá nhân và tổ chức trong Đảng có thể tự kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, tự đấu tranh để vượt lên chính mình. Từ đó xác định thái độ và ý chí quyết tâm sắt đá, sẵn sàng chiến đấu với tinh thần quyết liệt vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.

Thứ ba, cái mới được thể hiện ở các điểm nhấn quan trọng của các nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 nêu lên là: về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội.

Mỗi nhóm nhiệm vụ giải pháp ấy đều có những điểm nhấn quan trọng. Đó là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, vụ lợi, lợi ích nhóm. Là rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, bảo đảm quyền hạn đến đâu thì trách nhiệm đến đó. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Là thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên. Là phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, của nhân dân, của báo chí, của công luận; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”…

Có những việc rất cấp bách, không thể trì hoãn mà đòi hỏi phải làm ngay. Thí dụ như: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận”. Hoặc: “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.

Có ý kiến cho rằng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI vẫn còn nặng về đức trị, nên dẫn đến một số kết quả còn hạn chế. Theo cá nhân ông, những hạn chế trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng khóa trước đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII khắc phục chưa? Những nội dung pháp trị đã được tăng cường trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chưa?

Theo tôi, ở một góc độ nhất định có thể nói như vậy. Đúng là NQ TW4 khóa XI mới chỉ dừng lại ở nêu vấn đề, nêu nguy cơ, chỉ ra sự cấp bách và kêu gọi, tuyên truyền thực hiện Nghị quyết. Quyết liệt lắm thì cũng mới dừng lại như nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói: “Cho dù phải chấp nhận những biện pháp đau đớn cũng phải làm, vì đó là sự sống còn của Ðảng, của chế độ và tương lai tươi sáng của đất nước này”. Đến Nghị quyết TW4 khóa XII thì ngoài việc định rõ các biểu hiện cụ thể của các nguy cơ làm cơ sở để phán xét, nghị quyết còn chỉ ra những biện pháp mạnh mẽ để thực hiện. Nếu nói Pháp trị thì đặc thù căn bản của nó là tính pháp chế (tính buộc phải thi hành) và tính hình phạt, do đó, việc nghị quyết chỉ rõ, chi tiết, cụ thể các biểu hiện của suy thoái như một hệ thống tiêu chí cho xem xét đánh giá; đưa ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện, trong đó nhấn mạnh các hình thức, biện pháp kỷ luật, xử lý vi phạm; đúng là đã tăng cường nội dung pháp trị nhất định. Nghị quyết lần này chú trọng hơn mặt pháp trị. Điều này thể hiện xuyên suốt trong nghị quyết. Chẳng hạn có một mục riêng, yêu cầu đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Theo đó các cấp ủy sẽ phải công khai kết quả kiểm tra, giám sát như cách mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện lâu nay. Các cấp ủy rà soát ngay, xử lý nghiêm các trường hợp suy thoái, nhất là với người nhà, người thân của cán bộ chủ chốt có nhiều dư luận. Trước mắt rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nghị quyết chỉ rõ phải nghiên cứu tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm cho ủy ban kiểm tra các cấp. Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. Tăng thẩm quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ cán bộ dưới quyền. Điều này sẽ khắc phục được tình trạng lâu nay, khi cán bộ có dấu hiệu vi phạm là thường phải họp kiểm điểm, xác minh thấy hai năm rõ mười rồi mới tạm đình chỉ.

Nghị quyết còn khẳng định từng cấp, từng đơn vị sẽ chọn những việc nổi cộm, dư luận quan tâm, bức xúc tập trung tự phê bình, phê bình kết hợp chặt chẽ với kiểm tra, kỷ luật. Như thế sẽ khắc phục tư tưởng bị động, trông chờ xem trên thế nào và gắn thêm công cụ kỷ luật, chế tài để xử lý các việc sai phạm. Đó chính là những nội dung pháp trị đã được tăng cường trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

Xin ông cho biết những kinh nghiệm pháp trị từ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà hiện nay chúng ta cần vận dụng?

Tiên phong, gương mẫu, tự mình sửa mình theo luật, tuyệt đối tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, đồng thời nghiêm chỉnh, quyết liệt thực hiện việc xét xử, kỷ luật khi cán bộ vi phạm, mắc khuyết điểm là những gì chúng ta phải học từ Hồ Chủ Tịch và các nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng ta trước đây.

Sự kết hợp giữa “đức trị” và “pháp trị” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở cách mạng, khoa học và nhân văn, nói đi đôi với làm, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là kinh nghiệm từ Hồ Chí Minh mà hiện nay chúng ta cần vận dụng. Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương hỗ cho nhau để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng là dân tộc được độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác chỉnh Đảng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nghiêm minh xử lý tội hối lộ. Một ví dụ điển hình: Trong kháng chiến chống Pháp (9-1950), Bác Hồ mặc dù rất đau lòng nhưng vẫn y án tử hình Đại tá Trần Dụ Châu – Cục trưởng Cục quân nhu, phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn, bớt xén phần cơm áo của bộ đội để sống trác táng, trụy lạc. Người tâm sự với Trần Đăng Ninh trước khi ký bác đơn chống án của Trần Dụ Châu: “Với loài sâu mọt đục khét nhân dân, nếu phải giết đi một con mà cứu được cả rừng cây, thì việc đó là cần thiết, hơn nữa là nhân đạo”.

Trọn đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời giáo dục mọi người làm người, lấy đức làm gốc. Bởi vì, dù tài giỏi đến mấy mà không có đức, không có căn bản thì không làm được cách mạng. Nhưng Người luôn quán triệt “đức trị” phải thống nhất với “pháp trị”. Có thể nói, rất nhiều kinh nghiệm pháp trị quí báu từ Hồ Chí Minh. Người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Nhưng điều quan trọng hơn là Người tập trung chỉ đạo đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế, tạo cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành. Tư tưởng “pháp trị” của Hồ Chí Minh đặc biệt thể hiện nổi bật ở việc bảo đảm tính khoa học, hiệu lực và nghiêm minh của pháp luật.

Trước tình hình hiện nay, việc nghiên cứu và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa “đức trị” với “pháp trị” là hết sức cần thiết, nhất là vận dụng những kinh nghiệm quí báu của Người về “pháp trị”, vì nó soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nghiêm minh của pháp luật thật rõ ràng, dứt khoát: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”.

Theo ông, vấn đề cốt lõi nhất để tăng cường và đưa được pháp trị vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là gì?

Trung ương đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới một số quy định, quy chế nhằm tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, như: Quy chế bầu cử trong Đảng; Quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định về việc chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng; Quy chế giám sát cán bộ, đảng viên diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quy định việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động và luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp được đẩy mạnh hơn, nhất là việc triển khai xây dựng, thực hiện có hiệu quả Đề án Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 – 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo, góp phần quan trọng vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Các qui chuẩn pháp lý đã khá đầy đủ, vấn đề cốt yếu bây giờ là phải tăng cường tính “pháp chế” và tính “xét xử” với một quyết tâm chính trị quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa những gì chúng ta đã làm trong việc xử lý vi phạm kỷ luật. Đúng là sẽ rất “đau” vì phải xử lý đồng chí của mình, nhưng đã suy thoái thì phải xử lý, phải đào thải; bao che, dung túng, xuề xòa cho qua, giữ lại, cảnh báo để rút kinh nghiệm thì chỉ làm hại tổ chức và tăng nguy cơ “nhờn” pháp luật.

Kiểm soát quyền lực và nghiêm trị suy thoái

Ông có thể phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tăng cường pháp trị, kiểm soát quyền lực và nghiêm trị suy thoái?

Vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng ở ta hiện nay đòi hỏi căn bản là phải nghiêm trị suy thoái. Nhưng muốn nghiêm trị suy thoái thì vấn đề căn bản là phải tăng cường pháp trị và kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ. Vì vậy, giữa tăng cường pháp trị, kiểm soát quyền lực và nghiêm trị suy thoái có quan hệ biện chứng với nhau, chúng là nhân quả của nhau. Tăng cường pháp trị, kiểm soát quyền lực chặt chẽ sẽ chống được suy thoái. Ngược lại nếu pháp trị không được tăng cường, kiểm soát quyền lực lỏng lẻo thì tình trạng suy thoái càng trầm trọng, nguy hiểm đến sinh tồn của Đảng và dân tộc. Tăng cường pháp trị, kiểm soát quyền lực vừa là công cụ, điều kiện, vừa là giải pháp hữu hiệu nhất để nghiêm trị suy thoái. Mặt khác, tình trạng suy thoái bị nghiêm trị thì pháp trị sẽ nghiêm minh và quyền lực được kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên trong quan hệ qua lại ấy, tăng cường pháp trị, kiểm soát quyền lực vẫn giữ vị trí cơ sở, điều kiện, tiền đề để nghiêm trị suy thoái.

Pháp trị có ý nghĩa như thế nào trong việc kiểm soát quyền lực và trị suy thoái?

Pháp trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực và trị suy thoái ở ta hiện nay. Dĩ nhiên, ở đây pháp trị phải đặt trong điều kiện hiện nay chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Một đặc tính rất cơ bản của quyền lực là nó rất dễ bị tha hóa nếu nó không bị kiểm soát chặt chẽ. Nhưng muốn kiểm soát quyền lực chặt chẽ để tránh suy thoái thì phải có cơ chế kiểm soát nó hữu hiệu. Một trong những giải pháp căn bản nhất để có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hữu hiệu là phải có nền pháp trị mạnh theo đúng nghĩa nhân văn của nó.

Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (trong ảnh: Bộ trưởng Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị)
Đảng ủy Công an Trung ương tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (trong ảnh: Bộ trưởng Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị)

Nhưng để kiểm soát được quyền lực và để ai cũng phải ở trong “cái lồng” kiểm soát quyền lực không phải dễ? Ông có những hiến kế gì cho việc này?

“Dứt khoát phải kiểm soát quyền lực”, điều này đặt trong bối cảnh hiện nay ở ta, theo tôi thì không cần bàn cãi. Đây là điều đã được khẳng định chắc chắn, nhưng vấn đề là ở chỗ làm thế nào để kiểm soát được quyền lực một cách chặt chẽ mà vẫn phát huy được sức mạnh của quyền lực. Nói thì đơn giản, nhưng để kiểm soát được quyền lực và để ai cũng phải ở trong “cái lồng” kiểm soát quyền lực không phải dễ.

Vấn đề là chúng ta thiết kế “cái lồng” quyền lực thế nào cho phù hợp với tình hình hiện nay thì phải nghiên cứu một cách khoa học, phải tìm vạch cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn, tìm hiểu kinh nghiệm mô hình các nước có điều kiện, hoàn cảnh tương đồng. Trong đó, điều quan trọng nhất là phải xuất phát từ thực tiễn. Thực tiễn đặt ra phải làm và làm sao cho phù hợp, khả thi, có hiệu quả. Các cơ quan chức năng xây dựng “cái lồng để nhốt quyền lực” phải được đảm bảo điều kiện là không bị áp lực, rào cản nào và phải vô tư, khách quan, khoa học thì mới xây dựng lại một số quy trình, tiêu chuẩn, tiêu chí bổ nhiệm cán bộ cho phù hợp với tình hình hiện nay.

Để biến Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII thành hành động thực tế, biến những nội dung pháp trị trong Nghị quyết này thành hành động cụ thể, theo ông, các cơ quan từ Đảng, Quốc hội đến Chính phủ… cần có những hành động cụ thể như thế nào?

Điều mong muốn của tất cả chúng ta, trong Đảng cũng như trong nhân dân là Nghị quyết Trung ương 4 sớm được đưa vào cuộc sống một cách toàn diện, đồng bộ, đương nhiên là có trọng tâm trọng điểm. Về điều này, đúng như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo sâu sắc và thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ta là: “Muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt thì cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn”

Trân trọng cảm ơn những chia sẻ sâu sắc của ông cho công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng!

Nhóm Phóng viên Nội chính (thực hiện)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *