Luật sư Nguyễn Chiến – Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội: “Đừng biến thẩm phán thành cái máy xét xử”

(Pháp lý) – LTS: Trong số báo đầu tháng 7, Pháp lý có đăng tải bài viết “Khung hình phạt quá rộng, dễ dẫn đến sự tùy tiện của Tòa trong xét xử” là ý kiến của Thạc sĩ Luật học Trần Đức Thìn (Đại học Luật Hà Nội. Một mặt, ủng hộ những nhận định, quan điểm, nhìn nhận chặt chẽ của Thạc sĩ Trần Đức Thìn, mặt khác từ góc độ người tham gia công tác pháp luật thực tế nhiều năm, Luật sư Nguyễn Chiến – Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội – trao đổi với phóng viên Pháp Lý những trăn trở riêng: “Cần phải cân nhắc và nghiên cứu kĩ lưỡng trong việc phân chia khung hình phạt của mỗi tội danh trong Bộ Luật Hình sự (BLHS)… bởi nếu quy định khung hình phạt quá hẹp có thể sẽ biến thẩm phán thành cái máy xét xử”.

Băn khoăn cả tội danh lẫn hình phạt

Một trong những định hướng cơ bản trong việc xây dựng Dự án BLHS (sửa đổi) là hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ… Xuất phát từ thực tiễn, cần thiết phải sửa đổi những quy định của pháp luật phù hợp với phát triển xã hội, phục vụ cho yêu cầu cải cách tư pháp. Luật sư Nguyễn Chiến cho rằng: Hình phạt được xem là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Tuy nhiên, sau gần 15 năm thi hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã cho thấy những bất cập, hạn chế từ chính các quy định của khung hình phạt. Đây cũng chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng trong thời gian qua. Cần có những nghiên cứu kĩ lưỡng dựa trên tổng kết thực tiễn xét xử, và đặc thù của hệ thống pháp luật thành văn của nước ta để điều chỉnh những quy định chưa hợp lý, bổ sung những quy định mới cho phù hợp và có tầm nhìn bao quát hơn.

Luật sư Nguyễn Chiến - Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
Luật sư Nguyễn Chiến – Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Nói về tầm quan trọng trong định tội danh và quyết định hình phạt ở những bản án hình sự, Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hà Nội nhắc đến những vụ án mà ông và dư luận xã hội rất băn khoăn về hình phạt dành cho những kẻ có hành vi nguy hiểm cho xã hội: Vụ Công an bắt, làm chết người ở Phú Yên là một ví dụ. Bắt đầu từ gần sáng 13/5/2012, anh Ngô Thanh Kiều (SN 1982, ngụ tại thôn Mỹ Thuận Ngoài, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) đang ngủ ở nhà thì bị công an đến còng tay bắt đi (dù không có lệnh bắt). Chiều cùng ngày, anh Kiều tử vong khi đang trên đường đưa đến bệnh viện. Theo giám định trên người anh Kiều có đến 72 vết thương khác nhau, do ngoại lực tác động. Biên bản pháp y cho thấy hầu hết nội tạng đều tổn thương. Giám định kết luận nguyên nhân tử vong do chấn thương sọ não.

5 sĩ quan công an bị truy tố về tội dùng nhục hình với anh Kiều gồm: Nguyễn Minh Quyền, Nguyễn Tấn Quang, Phạm Ngọc Mẫn, Đỗ Như Huy, Nguyễn Thân Thảo Thành. Đầu tháng 4 vừa qua, sau 4 ngày xét xử sơ thẩm, TAND TP Tuy Hòa (Phú Yên) đã tuyên phạt 5 bị cáo nguyên là sĩ quan công an tội dùng nhục hình. Các bị cáo bị Tòa tuyên bố Phạm tội dùng nhục hình, Nguyễn Thân Thảo Thành – chịu án nặng nhất 5 năm tù; tiếp đến là Nguyễn Minh Quyền – bị tuyên phạt 2 năm tù; Phạm Ngọc Mẫn – 1 năm 6 tháng tù. Riêng Nguyễn Tấn Quang – bị tuyên phạt 1 năm 3 tháng tù và bị cáo Đỗ Như Huy – bị tuyên phạt 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Việc xác định tội danh dùng nhục hình nên hình phạt của bản án sơ thẩm trên là có vấn đề, tội danh không chính xác nên mức án quá nhẹ. Chính vì những bất thường đó nên cả dư luận lẫn các cấp chính quyền và các cơ quan tư pháp TP Tuy Hòa đều phản ứng trước bản án. Cụ thể, Chủ tịch nước có ý kiến yêu cầu VKSND Tối cao và TAND Tối cao chỉ đạo xét xử vụ án đúng pháp luật, VKSND Tối cao đã yêu cầu Viện KSND tỉnh Phú Yên xem xét lại toàn bộ vụ án, trong đó có việc xem xét bỏ lọt tội phạm là ông Lê Đức Hoàn đã có hành vi có dấu hiệu phạm tội… Kết quả là Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Yên đã ký kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.

Từ một dẫn chứng đó, quan điểm của Luật sư Nguyễn Chiến cho rằng: Tội danh và khung hình phạt có quan hệ “máu thịt” và không thể tách rời. Việc xác định tội danh đúng tạo tiền đề cho áp dụng hình phạt đúng, tương xứng mức độ, tính chất nguy hại của tội phạm gây ra cho xã hội. Định tội danh đúng cũng có nghĩa là chỉ ra đúng chế tài cần áp dụng đối với người phạm tội thì mục đích và ý nghĩa của hình phạt mới có tác dụng răn đe, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung. Để làm tốt được việc này, ngoài việc nghiên cứu quy định điều chỉnh lại khung hình phạt của một số tội danh trong BLHS cần hoàn thiện cả những quy định về cấu thành cơ bản đối với một số tội danh trong BLHS, bổ sung một số tội danh mới cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Khéo léo quy định khung hình phạt để xử lý tội phạm hợp lý, hợp tình

Đồng quan điểm với Thạc sĩ Luật học Trần Đức Thìn là mỗi tội danh và mức hình phạt trong BLHS được chia thành các khung có ưu điểm là đánh giá được các tính chất, mức độ khác nhau của từng trường hợp phạm tội. Nó tạo ra khoảng, khoanh vùng để người ta lựa chọn những biện pháp hình phạt phù hợp. Tuy nhiên nó cũng vẫn có nhược điểm là không có khuôn thước rõ ràng xác định khi nào áp dụng mức tối thiểu và khi nào áp dụng tối đa. Nhất là trong những trường hợp cùng một khung mà sự tối thiểu và tối đa xa nhau thì sự tùy tiện của những quan tòa càng lớn. Tuy nhiên, khung hình phạt ngắn, mức hình phạt trong khung cao nhiều khi cũng khó cho quan tòa khi quyết định hình phạt đối với các đồng phạm. Luật sư Nguyễn Chiến dẫn chứng một ví dụ: Từng bào chữa cho một vụ án tại Vũng Tàu, các bị cáo trong vụ án phạm tội “Cố ý làm trái các quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Hàng chục năm sau tôi vẫn không thôi day dứt bởi bản thân các bị cáo có chức vụ, giữ vai trò chỉ đạo và thực hiện hành vi làm trái gây thất thoát tiền bạc của nhà nước phải chịu hình phạt nặng đã đành, nhưng trong vụ án có những người bị quy kết là đồng phạm (chỉ có hành vi đánh máy văn bản theo chỉ đạo của cấp trên, phù hợp với công việc của mình) cũng bị truy cứu cùng tội danh và khung hình phạt với người có chức vụ quyền hạn, do mức thấp nhất của khung hình phạt đối với tội danh đó là rất nặng nên mặc dù bản án đã tuyên mức hình phạt dưới khung đối với đồng phạm đó nhưng rõ ràng vẫn còn là quá nặng đối với tính chất và mức độ của hành vi họ thực hiện.

Luật sư Nguyễn Chiến phân tích: Điều 20 BLHS quy định đồng phạm trong vụ án hình sự cụ thể có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại người đồng phạm – Một là những người tổ chức, chủ mưu, cầm đầu, hai là những người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm, làm theo sự chỉ dẫn, ra lệnh của người tổ chức, chỉ huy. Loại người thứ ba là giúp sức, có thể về vật chất hoặc tinh thần, họ có thể cùng có hành vi hoặc hoàn toàn không thực hiện hành vi tội phạm như người thực hành. Loại người thứ ba thường nhất thời, vì ngây ngô kém hiểu biết về pháp luật mà phạm tội. Trong khi đó, theo BLHS Việt Nam thì việc xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) của đồng phạm phải tuân thủ các nguyên tắc như “Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm”. Cụ thể, tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng một tội danh, theo cùng khung hình phạt mà điều luật quy định và chịu chế tài hình phạt của điều luật ấy quy định. Các nguyên tắc chung về việc truy cứu TNHS không bỏ lọt tội phạm, về nguyên tắc cá thể hóa hành vi khi quyết định hình phạt, về thời hiệu truy cứu TNHS được áp dụng chung cho tất cả đồng phạm…

Thế nhưng trong BLHS lại bao hàm điều luật quy định nguyên tắc, mỗi người phạm tội phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình. Trong vụ án có các đồng phạm nếu vận dụng nguyên tắc độc lập và liên đới chịu trách nhiệm rất khó phân biệt và đánh giá rất phức tạp. Trong quá trình xét xử, thẩm phán khi đánh giá toàn bộ vụ án cũng phải lưu ý đến vấn đề cá thể hóa hành vi và từ đó cá thể hóa hình phạt. Hãn hữu có vụ án đồng phạm mà HĐXX phân tách trách nhiệm độc lập của một người, hoặc nhóm người chịu trách nhiệm độc lập với các đồng phạm khác: Vì vậy khi vận dụng đường lối xét xử và nguyên tắc quyết định hình phạt Thẩm phán thường căn cứ khoản 2, Điều 3, BLHS: “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”.

Là người lăn lộn nhiều với thực tế xét xử các vụ án, ông Chiến cho rằng, không ít những vụ việc mà người phạm tội với vai trò là đồng phạm rất ngây ngô, thiếu hiểu biết, bị lôi kéo, xúi giục phạm tội, nhiều người đi cùng bạn không biết bạn có ý định và thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng, sự có mặt của họ tại nơi người kia thực hiện tội phạm cũng bị trở thành là đồng phạm giúp sức (về tinh thần) và họ trở thành tội phạm trong những hoàn cảnh rất đáng thương. Bởi vậy khi xét xử, mặc dầu HĐXX khi quyết định mức hình phạt đối với đồng phạm trong những loại án này, HĐXX cần phải xét đến các yếu tố nguyên nhân, điều kiện, vai trò mức độ tham gia của từng đồng phạm rất khác nhau nên cần phải có những quy định dãn khung để có thể áp dụng ở các mức hình phạt cao, thấp khác nhau tương xứng với vai trò của mỗi đồng phạm đó, thậm chí khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người phạm tội còn được áp dụng mức hình phạt thấp dưới khung, trong khung liền kề. Từ những phân tích trên, Luật sư Nguyễn Chiến nhận thấy, với một số tội danh, việc để rộng khung hình phạt có những lý lẽ riêng và hợp lý cho thẩm phán xem xét trách nhiệm của đồng phạm.

Ở một góc độ khác, luật sư Nguyễn Chiến cho rằng: Có thể chia nhỏ khung hình phạt, tuy nhiên việc chia nhỏ khung hình phạt trong một tội danh thường chỉ khắc phục được với những loại tội hậu quả định lượng được một cách rõ ràng hoặc đối với nhóm tội có yếu tố chiếm đoạt như tội lừa đảo, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… Nhưng đối với các loại tội như xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm… như Tội giết người, Tội bức tử, Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát, tội hiếp dâm…Thì vấn đề chia nhỏ khung hình phạt để giải quyết được thực tiễn xét xử quyết định hình phạt cho mỗi người đồng phạm trong cùng vụ án không hề đơn giản. Điều này đòi hỏi nhà làm luật phải cân nhắc và nghiên cứu rất kĩ.

Và yêu cầu cao hơn nữa ở người thẩm phán…

Luật sư Nguyễn Chiến e ngại: Chia nhỏ khung để người thẩm phán “nhấc vào” áp dụng cho từng vụ việc cụ thể, có thể đôi khi biến thẩm phán thành những cái máy xét xử… Việc để khung rộng, cũng là cách trao quyền cho thẩm phán. Tuy nhiên, nó cũng yêu cầu cao hơn ở thẩm phán và những người trong Hội đồng xét xử phải có kỹ năng chuyên sâu trong phân tích đánh giá chứng cứ, lương tâm và đạo đức nghề cũng như trách nhiệm đối với nhà nước, đối với xã hội và đối với từng thân phận, mảnh đời ẩn chứa đằng sau hành vi phạm tội trong từng vụ án hình sự để quyết định bản án thấu tình đạt lý.

Đánh giá cao vai trò lương tâm của thẩm phán trong việc xét xử và có một bản án công tâm, đúng pháp luật. Luật sư Nguyễn Chiến cho rằng: Ngoài việc sửa đổi, thiết kế những quy định trong Bộ Luật hình sự sao cho phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp, yêu cầu phòng chống tham nhũng trong công tác xét xử nhưng cũng phải xét đến những yếu tố đổi thay mạnh mẽ của đất nước yếu tố tư duy, nhận thức của con người là quá trình vận động của quy luật kết hợp hài hòa với quy định của pháp luật, quy tắc và phong tục tập quán của người dân ta. Nhấn mạnh lại quan điểm của mình, ngoài việc cần thiết phải sửa đổi BLHS thì cần phải có những cải cách để công tác xét xử của Tòa án được “dân phục, dân tin” vấn đề này Luật sư Nguyễn Chiến cho rằng đồng thời cần ban hành một bộ quy tắc đạo đức, ứng xử của những người làm công tác pháp luật nói chung và thẩm phán nói riêng. Đồng thời ngành tòa án cũng cần có những khóa bồi dưỡng, tập huấn bắt buộc đối với thẩm phán, cán bộ tòa án nhằm nâng cao hơn nữa kĩ năng của thẩm phán, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề của người thẩm phán thì chất lượng xét xử mới từng bước được nâng lên đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp trong tình hình mới của đất nước.

Phan Phan (Ghi)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *