Khi pháp luật làm khó và vô tình với những nỗi đau oan sai…!

(Pháp lý) – Năm 2004 là năm Nghị quyết 388 về bồi thường oan sai có hiệu lực, năm 2010 thay thế Nghị quyết trên là Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Có thể nói, nhiều quy định của Luật đã đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Tuy nhiên, thực tế áp dụng Luật đã bộc lộ những quy định gây khó khăn cho người đi đòi bồi thường oan sai. Thậm chí, có những quy định “quá vô tình” với những người gánh nỗi đau oan sai…

Đưa đẩy nghĩa vụ chứng minh

Những câu chuyện dưới đây là minh chứng cho những đoạn trường mà người đi đòi bồi thường oan sai gặp phải. Năm 2004 (khi còn áp dụng Nghị quyết 388), Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, Tiền Giang từng mở phiên xét xử vụ đòi bồi thường thiệt hại giữa ông Nguyễn Công Ơi và TAND tỉnh Tiền Giang. Ông Ơi đã 84 tuổi, hai lần bị oan sai, 14 năm đi khiếu nại. Tại tòa, đại diện TAND tỉnh Tiền Giang đòi ông phải đưa ra các văn bản, chứng từ chứng minh nguồn thu nhập của mình trước khi bị bắt, đòi y bạ, hóa đơn thuốc chứng minh ông bị bệnh trong lúc bị giam giữ. Ông Ơi không có những giấy tờ ấy.

Yêu cầu chứng minh thiệt hại gây khó cho người bị oan sai (Trong ảnh là ông Nguyễn Thanh Chấn bị án oan 10 năm đã rõ, nhưng đến nay chưa nhận được bồi thường).
Yêu cầu chứng minh thiệt hại gây khó cho người bị oan sai (Trong ảnh là ông Nguyễn Thanh Chấn bị án oan 10 năm đã rõ, nhưng đến nay chưa nhận được bồi thường).

Phía bị đơn, tức đại diện TAND tỉnh Tiền Giang, công bố những xác minh mà các thẩm phán đã thực hiện về thu nhập của ông Ơi: “Từ năm 1976-1980 ông Ơi làm nghề sửa xe đạp. Nhưng lúc này dân còn nghèo, cả ấp chỉ có khoảng 10 chiếc xe đạp nên thu nhập không đáng kể. Khoảng năm 1980-1983, ông chạy xe ngựa rồi ngựa chết. Thời điểm năm 1993-1994 khi bị bắt, ông chủ yếu làm vườn, trồng khoảng ba công dừa. Thu nhập rất thấp do giá dừa lúc đó rẻ…”.

Kết luận của những bản xác minh ấy là TAND tỉnh Tiền Giang không đồng ý bồi thường cho ông Ơi về khoản thu nhập bị mất trong thời gian bị bắt, dù yêu cầu của ông Ơi cũng chỉ dừng ở mức rất khiêm tốn là 15.000đ/ngày. Ông lão nghẹn ngào khóc giữa phiên tòa. Những người đến dự phiên tòa đều biết rằng hiện giờ, ở tuổi 84, ông lão Ơi vẫn còn lên thành phố làm bảo vệ, về nhà vẫn làm vườn, chăn vịt tự nuôi thân và phụ giúp con cháu. Mười mấy năm nay ông đi làm, dành dụm được đồng nào lại đổ vào việc khiếu kiện. Những tâm lực, nước mắt, mồ hôi ấy không có chứng từ nào ghi nhận được hết?

Trước đó, Tòa án huyện Gò Công Tây, vợ chồng ông Bùi Văn Mãnh cũng không thể tìm đâu ra những giấy tờ để chứng minh những khoản thu nhập, tài sản bị mất trong thời gian phải chịu oan sai. Vợ chồng ông chỉ có những câu chuyện trào nước mắt về cảnh sáu đứa con leo nheo đói khát những ngày cha bị bắt, mẹ bỏ trốn. Những vất vả, cơ cực khi người vợ gánh rau, khoai vừa đi bán vừa lòng vòng gửi đơn kêu oan cho chồng, khi đàn con đứa lớn phải đi làm thuê nuôi đứa bé. Những ngậm ngùi chua xót sau khi được tuyên không phạm tội, nhà cửa, tài sản tiêu tán, con cái thất học… “Cả núi vàng cũng không thể chuộc lại cho tôi những mất mát ấy”. Vậy mà ông lại phải lặp đi lặp lại nhiều lần nữa tại phiên tòa đòi bồi thường oan sai, sau những nỗ lực không thành về việc chứng minh những thiệt hại của mình bằng chứng từ cụ thể.

Năm 2014 (áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước thay thế Nghị quyết 388), “đoạn trường” đòi bồi thường vẫn còn nguyên.

Hay như mới đây nhất, trường hợp ông Nguyễn Thanh Chấn là một ví dụ. Bản án kết tội ông Chấn đã bị hủy bỏ. Thủ phạm thực sự của vụ án sau khi đầu thú đã có phiên tòa xét xử. Oan sai đã rõ rành rành. Tổng cộng số tiền ông Chấn yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bản thân và gia đình là 9,37 tỷ đồng. Lá đơn đòi bồi hoàn của ông Chấn, được các cơ quan chức năng phúc đáp: Đề nghị ông và gia đình xuất trình hóa đơn chứng minh những tổn thất tinh thần.

Ông Chấn ra tù với hai bàn tay trắng phải đối diện với tuổi già, bệnh tật… Như vậy, xét tổng thể 9,37 tỉ đồng cho 10 năm tù oan không phải là đòi hỏi quá đáng. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất, thiệt hại do tổn thất tinh thần và sức khỏe là rất rõ ràng. Nhưng nếu xét trên phương diện pháp luật hiện nay thì mức yêu cầu bồi thường 9,37 tỉ của ông Chấn là rất khó chứng minh. Bởi khi bị án oan, khi đi kêu oan thì bản thân gia đình ông Chấn không thể nghĩ được rằng, cần phải giữ những hoá đơn, chứng từ liên quan đến thiệt hại của gia đình, để sau này yêu cầu bồi thường oan sai.

Theo Khoản 1, Điều 19 của Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày”. Đối chiếu quy định này với trường hợp của ông Nguyễn Thanh Chấn, nhiều tháng trôi qua kể từ thời điểm ngày 15/8/2014, khi gia đình ông được Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội mời đến làm việc liên quan đến đề nghị bồi thường, nhưng đến nay vụ việc vẫn chưa giải quyết xong là quá chậm trễ.

Sự việc ông Chấn cũng điển hình cho sự chậm trễ khi thỏa thuận bồi thường giữa người bị thiệt hại với các cơ quan tiến hành tố tụng, một phần là do yếu tố chủ quan của người được cơ quan tiến hành tố tụng giao nhiệm vụ, nhưng một phần cũng xuất phát từ lý do khách quan do Luật định đó là yêu cầu đối với đương sự thu thập các tài liệu để chứng minh cho thiệt hại của mình theo luật, dẫn đến việc người bị thiệt hại rơi vào tình trạng “vật vã” khi đi đòi tiền bồi thường.

Án oan đã rõ, các cơ quan trễ nải trong việc bồi thường

Nói đến quá trình đòi các cơ quan tố tụng bồi thường, gian nan phải kể đến là trường hợp của ông Lương Ngọc Phi ở Thái Bình. Sau khi được minh oan cả 2 tội danh do các cơ quan tiến hành tố tụng ở Thái Bình làm ẩu, năm 2004 ông Phi làm đơn yêu cầu TAND tỉnh Thái Bình cải chính oan và bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần, thu nhập thực tế bị mất cùng thiệt hại về tài sản và khai thác tài sản. Hai năm sau, năm 2006, TAND tỉnh Thái Bình mới xin lỗi ông Phi. Thêm 3 năm nữa, năm 2009, TAND tỉnh Thái Bình mới thực hiện bản án bồi thường cho ông Phi hơn 600 triệu đồng thiệt hại về tinh thần và các khoản thu nhập thực tế bị mất sau 35 tháng bị giam. Sau đó, ông Phi tiếp tục khởi kiện 3 cơ quan tố tụng là công an, Viện KSND và TAND tỉnh Thái Bình phải bồi thường trên 54 tỷ đồng thiệt hại về tài sản, thiệt hại do không được khai thác từ tài sản. Cơ quan điều tra đẩy trách nhiệm sang tòa án vì tòa tuyên sau cùng. Tòa lại bảo dựa trên căn cứ điều tra của công an, cũng chính cơ quan điều tra phát mại tài sản nên công an phải đền. Vụ việc đòi bồi thường của ông Phi thậm chí đã được đặt lên bàn làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cuối cùng, cơ quan phải chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Phi là TAND tỉnh Thái Bình.

Ông Lương Ngọc Phi, người gian nan trong hành trình đi đòi bồi thường
Ông Lương Ngọc Phi, người gian nan trong hành trình đi đòi bồi thường

 

Trải qua 6 lần thương lượng bất thành, ông Phi buộc phải khởi kiện ra TAND TP.Thái Bình. Nguyên đơn của vụ kiện đòi bồi thường oan sai lớn nhất tính đến hiện nay tâm sự: “Thật sự, khi khởi kiện, tôi cũng không nghĩ TAND TP.Thái Bình sẽ dám đưa ra xét xử và xử tôi thắng vì họ là tòa cấp dưới, bị đơn lại là tòa cấp trên”. Cách đây khoảng hơn 1 năm, TAND TP.Thái Bình mới xét xử vụ việc và tuyên TAND tỉnh Thái Bình phải bồi thường cho ông Phi hơn 21 tỷ đồng. Án đã tuyên nhưng đến nay, TAND tỉnh Thái Bình không kháng án và cũng không có bất cứ phản hồi nào về việc sẽ trả tiền cho ông Phi.

Trả lời đơn của ông Lương Ngọc Phi, Trung tâm hỗ trợ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường – Cục Bồi thường nhà nước cho biết, TAND tỉnh Thái Bình là cơ quan hoạt động từ nguồn ngân sách nhà nước trung ương, theo quy định tại Điều 3, Thông tư liên tịch số 71 của liên bộ Tài chính – Tư pháp thì nguồn kinh phí bảo đảm chi trả tiền bồi thường cho ông Phi là từ ngân sách trung ương do Bộ Tài chính quản lý. Trường hợp TAND tỉnh Thái Bình không ứng dự toán để trả tiền bồi thường thiệt hại cho ông Phi thì thủ tục cấp kinh phí bồi thường được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Khoản 2, Điều 6 Thông tư liên tịch số 71. Theo đó, trong năm ngày làm việc kể từ ngày bản án giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, TAND tỉnh Thái Bình phải chuyển hồ sơ đến TAND tối cao để TAND tối cao kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, sau đó TAND tối cao có văn bản gửi Bộ Tài chính đề nghị cấp kinh phí bồi thường. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì TAND tối cao hướng dẫn TAND tỉnh Thái Bình bổ sung hồ sơ, thời hạn bổ sung không quá 15 ngày.

Ông Phi cho rằng: “Còn nhiều quy định chưa rõ liên quan đến việc bồi thường oan sai cho công dân. Những người oan sai nếu không kiên trì, không có kiến thức pháp luật sẽ không thể đòi lại được công lý. Án oan đã rõ nhưng các cơ quan có trách nhiệm bồi thường vòng vo thì chính người bị thiệt hại cũng bị quay cuồng, thua thiệt, khổ sở trong vòng tố tụng đó.

Để pháp luật không vô tình…

Trong vụ Nguyễn Thanh Chấn, đòi hỏi sự sáng tạo linh hoạt của Viện KSND tối cao, TAND tối cao, trực tiếp là những người thực thi pháp luật mới giải quyết được vấn đề. Nếu chỉ nhìn vào những câu chữ trong quy định của pháp luật, thì chắc chắn việc bồi thường cho ông Chấn sẽ bế tắc. Cơ quan chức năng cần có giải pháp tháo gỡ, trên cơ sở các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước để tìm ra giải pháp thấu tình đạt lý việc đền bù oan sai cho ông Chấn, tạo ra tiền lệ cho việc giải quyết những vụ oan sai sau này.

Ông Phi được coi là nạn nhân của vụ án oan lớn nhất tỉnh Thái Bình, lớn cả về tính chất vụ việc ở thời điểm ông bị bắt đến cả sự phức tạp, gian truân suốt 10 năm đi đòi bồi thường oan sai. Số tiền TAND tỉnh Thái Bình phải bồi thường cho ông Phi cũng là số tiền lớn nhất mà cơ quan tố tụng buộc phải bồi thường cho người bị oan sai từ trước đến nay. Đây là số tiền không hề nhỏ và tiền ngân sách đã phải “gánh” cho lỗi của một số người tiến hành tố tụng gây ra cả chục năm trước đây. Thế nhưng không thể vì thế mà các cơ quan chức năng không giải quyết khiến ông khốn khổ, khốn nạn.

Trong quan hệ bồi thường nhà nước thì các chủ thể tham gia quan hệ này không tương quan lực lượng. Bên yêu cầu bồi thường (người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra) luôn ở thế yếu so với bên phải bồi thường (Nhà nước).

Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước ra đời ngày 18/6/2009, có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, được kỳ vọng là một bước tiến dài trong việc giải quyết những tồn đọng trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhưng nay, qua một vài vụ xem xét bồi thường đã bộc lộ nhiều điểm cần phải xem xét lại để sửa đổi, bổ sung. Theo quy định, các khoản tiền người bị oan sai được bồi thường bao gồm: thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; thiệt hại do tổn thất về tinh thần; thiệt hại về vật chất do tổn hại về sức khỏe; khôi phục danh dự, nhân phẩm… Hầu hết những thiệt hại này bị yêu cầu phải được chứng minh bằng các biên lai, hóa đơn… Cần sửa đổi quy định này, có như thế, người oan sai không còn bị “đánh đố” để nhận được bồi thường xứng đáng.

Ông Đỗ Văn Chỉnh, Nguyên Chánh thanh tra tòa tối cao cho rằng: Trách nhiệm bồi thường nhà nước là loại bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó và theo giá thực của thị trường. Luật hiện nay chỉ tính đến bồi thường theo giá của nhà nước, định mức của nhà nước là bất cập, điều đó dẫn đến người đòi bồi thường sẽ thiệt đơn, thiệt kép. Một số Luật gia trong khi nói về quy định “chứng minh thiệt hại bằng hóa đơn, chứng từ” trong Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước cho rằng: Đây là quy định cứng, cần sửa đổi theo hướng không nên bắt buộc xuất trình hóa đơn, chứng từ mà cụ thể quy định khung, cứng về mức bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể để giảm bớt gánh nặng chứng minh thiệt hại cho người bị oan sai…

Ông Chỉnh cũng cho rằng: Việc tòa gây oan sai rồi lại tự xử mình là hiện tượng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” nên không tránh khỏi ý chí chủ quan “bảo vệ mình, bảo vệ nhân viên của mình”. Để khách quan và công bằng, vấn đề xem xét trách nhiệm bồi thường của nhà nước nên để cơ quan trọng tài giải quyết. Tách cơ quan giải quyết vấn đề bồi thường khỏi chính quyền, Viện kiểm sát, Tòa án để giải quyết vấn đề khách quan nhất.

Mới đây, trong phiên trả lời chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với câu hỏi “Ai sẽ là người chịu trách nhiệm về khoản tiền đền bù hơn 6 tỷ cho các nạn nhân bị xử oan sai trong thời gian 3 năm từ 2012-2014”, Chánh tòa tối cao cho biết: “Trong trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý thì mới đặt ra vấn đề phải hoàn trả cho ngân sách tiền bồi thường oan sai. Trên thực tế, các vụ xử oan sai hiện nay chưa có vụ nào xác định là do lỗi cố ý mà hầu hết là do lỗi nhận thức, vô ý”. Như vậy là đã rõ, từ trước tới nay, tiền bồi thường oan sai đều lấy từ ngân sách nhà nước, bởi vì người thi hành công vụ làm ra án oan sai nhưng đều do “lỗi vô ý” cả. Trước bất cập này, có ý kiến cho rằng cấp thiết phải sửa đổi quy định về mức bồi thường thiệt hại của công chức thi hành công vụ và vấn đề xác định lỗi phải bồi thường của công chức.

Minh Hải

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *