Góp ý sửa đổi bộ luật Hình sự (Bài 2): Không ít hành vi nguy hiểm còn… được “thả rong” đang thách thức xã hội (?!)

(Pháp lý) – Pháp luật hình sự là một trong những công cụ hữu hiệu nhất mà Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm. Do đó trong hoạt động lập pháp đòi hỏi phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội để  tác động có hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

>> Bài 1: Không ít hành vi nguy hiểm còn…được “thả rong” đang thách thức xã hội (?!)

Bộ luật Hình sự năm 1999 mặc dù đã được sửa đổi, nhưng chưa theo kịp thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng của các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đang tiềm ẩn khả năng du nhập, thách thức chính sách điều hành vĩ mô của Nhà nước ta.

Tiếp theo số đầu tháng 8, trong số này Tạp chí Pháp lý tiếp tục tổng hợp giới thiệu một số hành vi điển hình khác nảy sinh từ thực tiễn đang được dư luận đặc biệt quan tâm rất cần được bổ sung vào Bộ luật Hình sự sửa đổi sắp tới…

Tham nhũng tư không thể đứng ngoài… vòng pháp luật

“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi”, Luật Phòng, chống tham nhũng đã xác định rõ. Tuy nhiên người có chức vụ, quyền hạn lại không bao gồm một số đối tượng trong khu vực công như người không phải là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức Nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp; cán bộ quản lý cấp phòng, ban và nhân viên của doanh nghiệp nhà nước; cán bộ quản lý không đại diện vốn Nhà nước trong doanh nghiệp (DN) có vốn thiểu số của Nhà nước…

  Tham nhũng khu vực tư hoành hành làm giảm sức thu hút đầu tư  - Ảnh minh họa

Tham nhũng khu vực tư hoành hành làm giảm sức thu hút đầu tư – Ảnh minh họa

Yếu tố công được “khoanh vùng” hẹp, nên trên thực tế việc xác định người có hoặc không có chức vụ, quyền hạn không đơn giản, nhất là đối với bên thứ ba khi làm việc với đơn vị sự nghiệp, DN nhà nước hoặc DN có vốn Nhà nước. Điều đó cũng đồng nghĩa với hệ thống luật hiện hành đã loại đối tượng tham nhũng trong khu vực tư ra khỏi hành vi tham nhũng, không thể xử lý hình sự. Hay nói cách khác, hệ thống luật hiện hành của chúng ta quy định về tội tham ô chỉ gói gọn trong lĩnh vực Nhà nước, với những người nắm quyền và tiền của Nhà nước mà chưa đề cập đến quyền và tiền trong lĩnh vực tư.

Hành vi tham nhũng trong khu vực tư bị “thả rong” đã vô tình trở thành mảnh đất màu mỡ cho những đối tượng nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật tự do hoành hành. Trong nỗ lực của mình, mới đây Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu bước đầu về nhận diện những hành vi có dấu hiệu tham nhũng tiềm ẩn trong khu vực tư.

Theo đó, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được quan hệ giữa DN với DN cũng có những dấu hiệu tham nhũng. Khi vay vốn từ Ngân hàng gặp khó khăn, có tới 16,57% DN sử dụng dịch vụ trung gian môi giới và chi phí trung bình một khoản vay Ngân hàng là 2,8% tổng số tiền vay được, có trường hợp lên tới 10%. Đáng chú ý là trong hoạt động đấu thầu (được coi là hình thức minh bạch để lựa chọn nhà cung cấp tốt), kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 30,45% doanh nghiệp có thực hiện đấu thầu; trong số có thực hiện đấu thầu cũng chỉ có 7,89% doanh nghiệp thường xuyên hoặc luôn luôn tổ chức và 22,55% thỉnh thoảng hoặc hiếm khi tổ chức.

Đặc biệt là hành vi “lại quả” trong lĩnh vực tư đã làm “nóng” tại hội thảo góp ý bổ sung dự án Luật Hình sự sửa đổi do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội phối hợp với Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc tổ chức mới đây (3/8).

Kết quả nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng cho thấy các khoản “lại quả” mà DN thường trích lại cho đối tác phần lớn từ 5-10% giá trị hợp đồng. Hình thức phổ biến vẫn là hành vi “lại quả” giữa bên cung cấp và cán bộ phụ trách hoặc có thẩm quyền mua sắm trong một DN.

Trong khi đó, pháp luật hiện hành chưa chính thức ghi nhận vấn đề tham nhũng trong khu vực tư nên chưa có các biện pháp xử lý tương xứng cả về hành chính và hình sự. Do đó rất cần có các biện pháp xử lý hình sự tương xứng đối với các hành vi tương tự như hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước xảy ra ở khu vực tư.

Hệ lụy của tham nhũng trong khu vực tư dẫn tới làm suy giảm tính cạnh tranh, giảm hiệu quả và tính sáng tạo, khiến các DN cạnh tranh không dựa trên những tín hiệu thị trường chính xác; các DN nhỏ và vừa, DN mới sẽ gặp nhiều rào cản “không chính thức” khi thâm nhập thị trường. Và cuối cùng là “trăm dâu đổ đầu tằm”, khách hàng phải trả giá cao hơn cho các sản phẩm, dịch vụ và hàng hóa trong khi chất lượng thấp và thiếu các dịch vụ chăm sóc tốt.

Nghiêm trọng hơn, hành vi tham nhũng trong khu vực tư có thể xảy ra những hậu quả ngay tức thì đối với môi trường tại Việt Nam, đó là khiến đầu tư suy giảm. Ông Nguyễn Tuấn Anh (Vụ pháp chế Thanh tra Chính phủ) phân tích: “Khi các hành vi có dấu hiệu tham nhũng mang tính phổ biến, các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư ở các nước phát triển, sẽ rất dè dặt đưa ra các quyết định đầu tư do họ không thể dự báo được những chi phí không chính thức có thể phát sinh trong hoạt động kinh doanh, mức độ thành công khi các đối tác kinh doanh ở nước sở tại cũng áp dụng những phương thức kinh doanh thiếu liêm chính như vậy”.

Do đó, việc mở rộng khái niệm “người có chức vụ, quyền hạn” trong phòng, chống tham nhũng ra khu vực tư nhân không chỉ đáp ứng được đòi hỏi từ thực tiễn mà còn phù hợp với Công ước phòng, chống tham nhũng của Liên Hợp quốc mà Việt Nam đã tham gia. Ông Tuấn Anh đề xuất: “Chủ thể của hành vi tham nhũng cần phải mở rộng là người điều hành, người được giao công việc hoặc làm ở bất kỳ vị trí nào trong tổ chức thuộc khu vực tư mà họ có thể sử dụng để trục lợi bất chính trong hoạt động kinh tế, tài chính, thương mại”.

Đồng tình với các quan điểm trên, Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Sơn cho rằng công hay tư đều có tham ô, do đó ông hoàn toàn ủng hộ việc xem xét quy định tội tham nhũng trong khu vực tư, bởi DN hoạt động trong khu vực tư tuân thủ Luật Doanh nghiệp và điều lệ của công ty cũng như luật này đã giao quyền hạn, trách nhiệm đối với những người đứng đầu công ty. Cái khác đối với những người đứng đầu trong khu vực tư với khu vực công chỉ là chủ sở hữu của tài sản, còn tài sản đều có giá trị như nhau. “Vậy lý gì đối với khu vực công có tội tham ô mà khu vực tư không có?”, ông Sơn nói.

Tội phạm trong lĩnh vực môi trường giết cả một thế hệ…

Thực tiễn cho thấy các hành vi vi phạm môi trường ngày càng gia tăng với hình thức và mức độ ngày càng tinh vi và việc áp dụng các điều khoản của BLHS để xử lý các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường của các cơ quan chức năng còn hết sức lúng túng, khó xác định.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2015, Tổng cục Môi trường cho biết đã ban hành 505 kết luận thanh tra đối với các cơ sở, khu công nghiệp được thanh tra vào quý IV năm 2014. Theo đó đã xử phạt 305 tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với tổng số tiền xử phạt trên 20 tỉ đồng và ban hành 18 quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định của pháp luật.

  Cán bộ Phòng Cảnh sát môi trường phối hợp giải quyết vụ việc gây ô nhiễm môi trường tại Công ty Nicotex Thanh Thái, Thanh Hóa do chôn thuốc trừ sâu hết hạn sử dụng được người dân phát hiện

Cán bộ Phòng Cảnh sát môi trường phối hợp giải quyết vụ việc gây ô nhiễm môi trường tại Công ty Nicotex Thanh Thái, Thanh Hóa do chôn thuốc trừ sâu hết hạn sử dụng được người dân phát hiện

Trước đó năm 2014, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C49) – Bộ Công an (C49) đã ban hành thông báo công khai danh sách 27 DN vi phạm chủ yếu là xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn bị C49 ra quyết định xử phạt. Điển hình trong số đó là các doanh nghiệp: Xưởng giặt thuộc Công ty TNHH sản xuất và thương mại Đức Duy; Chi nhánh Công ty TNHH sản xuất nhựa Việt Nhật; Công ty TNHH Nam Long; Công ty cổ phần Hưng Lợi; Chi nhánh Công ty cổ phần Sơn Lâm; Công ty TNHH High Poin Furniture Global Việt Nam; Công ty TNHH sản xuất và thương mại Việt Mỹ; Công ty cổ phần Viglacera Thăng Long; Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản Thanh Hóa; Công ty TNHH Thanh Bình…

Đánh giá về tình hình tội phạm môi trường, C49 cho rằng, tình trạng này ngày càng phổ biến, phức tạp và nghiêm trọng. Trong đó vi phạm về bảo vệ  môi trường chủ yếu là vi phạm về xử lý chất thải tại các KCN, các làng nghề, cơ sở kinh doanh…. Cùng với đó, trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp, phần lớn các DN đều không có hồ sơ, thủ tục công tác BVMT, không thực hiện nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt.

Trong khi đó tình trạng khai thác trái phép quặng kim loại màu, đá, cát, sỏi làm vật liệu xây dựng diễn ra tràn lan tập trung tại các tỉnh Tây Bắc, miền Trung, Đông Nam Bộ, trên các tuyến sông Hồng, Tiền, Hậu, Ba, Đáy… Tình trạng huỷ hoại rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn tại một số địa phương khu vực miền Trung – Tây Nguyên (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai…), buôn bán, vận chuyển trái phép các loại gỗ quý hiếm có giá trị cao như huê, nghiến, bách xanh… vẫn diễn biến phức tạp.

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Nguyễn Linh Ngọc thừa nhận, các vụ việc vi phạm về BVMT được phát hiện tăng nhanh về số lượng cũng như mức độ nghiêm trọng, tính chất phức tạp của hành vi vi phạm. Thế nhưng, việc xử lý đối với các hành vi vi phạm này, phần lớn áp dụng chế tài xử lý hành chính, còn chế tài xử lý hình sự được áp dụng trên thực tế chiếm tỷ lệ nhỏ.

Hậu quả của vi phạm môi trường ai cũng biết, đó là tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng. Khi các DN gây ô nhiễm môi trường khiến cho đời sống người dân lao đao, điển hình như vụ dân kiện Công ty Vedan làm ô nhiễm dòng sông Thị Vải và mới đây thôi vụ chôn thuốc trừ sâu gây ô nhiễm tại Thanh Hoá đã làm cho dư luận không khỏi bàng hoàng…

Một vụ án lừa đảo, cướp của mấy triệu đồng, tham nhũng mấy tỷ đồng thì đã quá rõ. Còn việc gây hại cho người dân, suy kiệt sức khoẻ một đời, thậm chí di chứng cho cả đời sau thì đã ai tính được. Không chỉ một người, hai người, thậm chí một làng, một xã, một tỉnh, cả một thế hệ. Nói về hậu quả có lẽ còn nghiêm trọng gấp nhiều lần hậu quả mấy vụ lừa đảo, cướp của kia. Có thể nói hậu quả của tội phạm môi trường thật khó đo đếm.

Thiếu tướng Nguyễn Xuân Lý – Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, phân tích: “Tội phạm hình sự cướp của, giết người sẽ bị tử hình nhưng tội phạm trong lĩnh vực môi trường giết cả thế hệ chỉ phạt 500 triệu đồng là xong. Chính vì vậy mà tội phạm môi trường ngày càng nhiều…”. Ông Lý cũng thừa nhận, hiện chưa có một chế tài đủ mạnh đặc trị loại tội phạm này. Bộ luật Hình sự (BLHS) sửa đổi năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định 11 tội danh về tội phạm môi trường. Mức phạt tiền trong các tội danh này cũng được quy định theo hướng tăng lên. Những tưởng đây là “cây gậy sắt” trong xử lý tội phạm môi trường nhưng thực tế lại không như vậy.

Ồn ào nhất trong lịch sử về vi phạm môi trường có lẽ là sự kiện của Công ty Vedan. Ước tính mỗi ngày Vedan xả ra sông Thị Vải tới 5.000 m3 nước thải và việc xả thải vô tội vạ này đã diễn ra từ khi Vedan mới bắt đầu hoạt động (năm 1994). Thế nhưng phải sau nhiều lần thanh kiểm tra, thậm chí phải thương lượng, dư luận tốn không ít thời gian công sức cho vụ việc này, cuối cùng Vedan mới chịu phạt hành chính hơn 200 triệu đồng và cũng chỉ dừng lại ở bước xử lý hành chính…

Cũng theo Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, mỗi năm toàn lực lượng phát hiện khoảng 5 – 6 ngàn vụ vi phạm pháp luật về môi trường, tuy nhiên việc xử lý hình sự chỉ dừng lại ở con số hơn trăm, thậm chí có năm chỉ là hàng chục. Ngoài lý do tội phạm về môi trường ngày càng tinh vi, khó phát hiện thì việc không thể xử lý hình sự được, theo Thiếu tướng Nguyễn Xuân Lý, các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS về tội phạm môi trường hiện nay đang rất thiếu. Các khái niệm cơ bản như “nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả lớn…” lại chưa được làm rõ dẫn đến việc khó áp dụng.

Ở một góc nhìn khác, Viện trưởng Viện Khoa học quản lý môi trường (Tổng cục Môi trường) Phạm Văn Lợi chỉ ra “lỗ hổng lớn của pháp luật”, đó là BLHS hiện hành quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân vi phạm. Do đó để xử lý nghiêm tội phạm về môi trường theo ông Lợi, điều quan trọng là cần phải sửa đổi, bổ sung một cách cơ bản BLHS, trong đó phải thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vi vi phạm của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay.

Đồng quan điểm trên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương Trần Văn Độ cũng cho rằng: “Cần quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân vì thực tế nhiều vụ pháp nhân vi phạm không xử lý được, nhất là nhóm tội phạm về kinh tế. Một chủ trương được cả tập thể quyết định rồi dẫn đến làm sai, nhưng lại chỉ có một cá nhân chịu trách nhiệm là không hợp lý”./.

(còn nữa)

VŨ LÊ MINH