Điều tra và báo chí với việc chống oan sai…

(Pháp lý) – Câu chuyện người cựu tù Nguyễn Thanh Chấn yêu cầu bồi thường 10 tỷ đồng cho 10 năm chịu án oan giết người và mới đây lại thêm vụ “7 ông Chấn”oan sai ở Sóc Trăng đang được sự quan tâm của dư luận. Những vụ việc này dẫn dụ đến một mối quan hệ đặc thù khác, mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và báo chí, đang được bàn thảo hiện nay nhằm mục tiêu chống tội phạm, chống tham nhũng và chống oan sai… có hiệu quả hơn.

>>Bàn về cơ chế để giám sát được thực chất hoạt động điều tra

>>Đề xuất các giải pháp để bảo vệ người dân không bị oan sai, ép cung, nhục hình

Cơ quan điều tra

Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự là một đạo luật lớn, phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục tiêu mà cơ quan soạn thảo đặt ra là đạo luật này sẽ đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng; góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay; phục vụ yêu cầu xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Hoạt động tố tụng luôn là điểm quan tâm của báo chí. (Ảnh: Các Phóng viên tác nghiệp tại cơ quan tố tụng)
Hoạt động tố tụng luôn là điểm quan tâm của báo chí. (Ảnh: Các Phóng viên tác nghiệp tại cơ quan tố tụng)

Luật này được ban hành sẽ góp phần cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp sửa đổi năm 2013, kiện toàn, ổn định mô hình, tổ chức cơ quan điều tra hình sự cũng như thẩm quyền, quyền hạn điều tra của các cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo định hướng cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta.

Đây sẽ là công cụ pháp lý sắc bén để bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, dự thảo còn thiếu những quy định mới nhằm hạn chế tối đa việc làm oan người vô tội. Trước hết, định nghĩa thế nào là “hoạt động điều tra”, đang có sự thiếu thống nhất giữa các nhà làm luật.  Theo một số điều của BLTTHS như Điều 10 (xác định sự thật của vụ án), Điều 63 (những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự), Điều 65 (thu thập chứng cứ), Điều 66 (đánh giá chứng cứ), “hoạt động điều tra” liên quan chặt chẽ đến thu thập, đánh giá “chứng cứ”. Tuy nhiên, định nghĩa “chứng cứ” là “những gì có thật” theo Điều 64 BLTTHS lại gây tranh cãi.

Nhiều ý kiến cho rằng định nghĩa như vậy khiến hoạt động điều tra được hiểu là hoạt động thu thập chứng cứ – chứng minh tội phạm, trong khi cần xác định đây chỉ là giai đoạn thu thập “nguồn chứng cứ” phục vụ cho việc chứng minh tội phạm ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo.

Theo nhiều chuyên gia pháp luật, để làm rõ khái niệm “hoạt động điều tra”, trước hết cần định nghĩa “dấu hiệu tội phạm”, “dấu vết tội phạm”, “nguồn chứng cứ”, đồng thời cần có thêm hoặc làm rõ thêm các khái niệm “người bị tình nghi”, “người bị oan”. Những khái niệm này nhằm cụ thể hóa nguyên tắc suy đoán vô tội, đồng thời giúp phân định rõ các hoạt động điều tra như trinh sát (phát hiện dấu hiệu tội phạm), điều tra tiền tố tụng (làm rõ dấu hiệu tội phạm), điều tra tố tụng (thu thập dấu vết tội phạm).

Khi làm rõ những khái niệm trên, “hoạt động điều tra” sẽ được hiểu là quá trình phát hiện dấu hiệu tội phạm, thu thập dấu vết tội phạm, làm tiền đề cho việc chứng minh tội phạm ở các khâu tố tụng tiếp theo. Điều này giúp tránh lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm dụng tạm giam người bị tình nghi, khi dấu vết tội phạm chưa rõ hoặc chưa được thu thập đầy đủ, dẫn đến làm oan người vô tội.

Một điểm nữa gây tranh cãi, thậm chí lo ngại rằng sẽ gia tăng nguy cơ oan sai là cho phép công an cấp xã tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu. Bà Lê Thị Thu Ba, Phó Trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương cho biết: “Việc cho công an xã, phường được phép điều tra ban đầu là không hợp lý và không ai làm như vậy vì xã phường còn nhiều nhiệm vụ khác. Cảnh sát xã, phường không có nhiệm vụ điều tra, họ phải làm những việc như thi hành án ngoài tù, triển khai công tác đối với những đối tượng xử lý chuyển hướng…”.

Kiểm sát viên cao cấp Võ Văn Thêm, Phó Viện trưởng Viện Phúc thẩm 3 VKSNDTC thì nói, hiện chưa có nước nào trên thế giới lại đưa công an xã, phường… vào lực lượng điều tra. Mục tiêu của dự luật là tinh gọn đầu mối song lại chia nhỏ như thế này thì đang làm phức tạp, tạo ra nhiều lỗ hổng hơn.

Phối hợp với báo chí

Việc hợp tác giữa cơ quan điều tra và các cơ quan truyền thông đại chúng đã và đang đem lại những kết quả tốt trong hoạt động phòng chống tội phạm. Báo chí vừa là nguồn thông tin tội phạm, vừa là nguồn động viên, cổ vũ hoạt động phòng chống tội phạm. Bên cạnh đó, báo chí còn là một kênh quan trọng để nhân dân, các đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc thực hiện quyền giám sát hoạt động điều tra, đã được hiến định và luật định. Vì vậy, theo nhiều chuyên gia, vấn đề hợp tác giữa cơ quan điều tra và các cơ quan truyền thông cũng cần được đưa vào dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, ví dụ như quy định về xử lý thông tin tội phạm trên báo chí, quy định về việc cơ quan điều tra họp báo, trả lời phỏng vấn, cung cấp thông tin cho các cơ quan truyền thông.

Trong khi vụ án oan sai đối với ông nGuyễn Thanh Chấn còn chưa làm dịu dư luận, thì mới đây lại thêm vụ oan sai đối với 7 thanh niên ở Sóc Trăng (Trong ảnh: Quyết định kỷ luật 25 cán bộ gây oan sai ở Sóc Trăng. Trong số này đã có 1 số cán bộ bị khởi tố)
Trong khi vụ án oan sai đối với ông nGuyễn Thanh Chấn còn chưa làm dịu dư luận, thì mới đây lại thêm vụ oan sai đối với 7 thanh niên ở Sóc Trăng (Trong ảnh: Quyết định kỷ luật 25 cán bộ gây oan sai ở Sóc Trăng. Trong số này đã có 1 số cán bộ bị khởi tố)

Trở lại vụ án oan sai 10 năm đối với Nguyễn Thanh Chấn, sau phiên tòa phúc thẩm đã có những bài báo cung cấp nhiều thông tin, dấu hiệu bất thường xung quanh việc điều tra vụ án này, đưa ra những nghi vấn oan sai nhưng rất tiếc là các thông tin này đã không được các cơ quan tiến hành tố tụng quan tâm, xử lý đúng mức, dẫn đến hậu quả ông Chấn bị tù oan tới 10 năm. Do đó, trách nhiệm xử lý, phản hồi thông tin báo chí của các cơ quan liên quan cần được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Báo chí.

Để thực hiện quy định về nhiệm vụ và quyền của báo chí tại Điều 6 Luật Báo chí, đặc biệt là “thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân”, “đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và hiện tượng tiêu cực xã hội khác”, báo chí phải được quyền tiếp cận thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác.

Điều 7 của Luật Báo chí quy định: “Trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình, các tổ chức có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin cho báo chí, giúp báo chí thông tin chính xác, kịp thời và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”.

Bên cạnh đó, vai trò phòng chống tham nhũng của báo chí cũng được đề cao. Điều 9 – Luật Phòng chống tham nhũng (LPCTN) quy định: “Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng…”. Tại khoản 1 Điều 86 Luật PCTN quy định: “Nhà nước khuyến khích cơ quan báo chí, phóng viên đưa tin phản ánh về vụ việc tham nhũng và hoạt động phòng, chống tham nhũng”.

Tại khoản 3, Điều 86 LPCTN quy định: “Cơ quan báo chí, phóng viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu đó theo quy định của pháp luật; trường hợp không cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Về việc đưa tin các vụ án, Điều 7 Luật Báo chí quy định: “Đối với vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền không cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”.

Như vậy, có thể nói Luật phòng chống tham nhũng và Luật Báo chí đã xây dựng được một hành lang pháp lý thông thoáng để báo chí phát huy vai trò xung kích trong giám sát, đấu tranh, phòng chống tham nhũng.

Tuy nhiên, việc báo chí tiếp cận thông tin, tiếp cận với người phát ngôn thường gặp nhiều khó khăn. Trước hết, vì người phát ngôn có thể lấy lý do những điều báo chí hỏi là “vấn đề thuộc bí mật nhà nước; những vấn đề bí mật thuộc nguyên tắc và quy định của Đảng; những vấn đề không thuộc quyền hạn phát ngôn” hoặc “văn bản chính sách, đề án đang trong quá trình soạn thảo theo quy định của pháp luật chưa được cấp có thẩm quyền cho phép phổ biến, lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội” (Khoản 3 Điều 5) để từ chối phát ngôn hoặc cung cấp thông tin. Người phát ngôn thường là thủ trưởng cơ quan hoặc giữ trọng trách trong cơ quan nên bận họp hành, đi công tác, báo chí tiếp cận không dễ dàng.

Để cơ quan điều tra và báo chí phát huy có hiệu quả vai trò của mình trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, chống tham nhũng nói riêng và ngăn ngừa oan sai thì hai đạo luật quy định về hai đối tượng này cần được thiết kế sao cho tương thích với nhau và tương thích với cả hệ thống pháp luật nói chung. Hiện tượng vênh nhau giữa một số quy định của các đạo luật, vênh nhau giữa luật và thực tiễn cần được san bằng trên tinh thần cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thái Văn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *