Để Luật Tiếp công dân sớm đi vào cuộc sống

(Pháp lý) – LTS: Ngày 25/11/2013, Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13 đã được Quốc hội khóa XIII thông qua, với 9 chương, 36 điều.  Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014. Cả xã hội kì vọng Luật này sẽ khắc phục những yếu kém của công tác tiếp dân trước đây và tạo niềm tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền. Làm thế nào để Luật Tiếp công dân sớm đi vào cuộc sống là vấn đề cả xã hội quan tâm.

Bài 1: Xóa những vết nhăn trong “vỏ não” về công tác tiếp dân

Người dân có “sự mặc định” về hình ảnh không đẹp đối với một số cán bộ, công chức và nguy hiểm hơn nó trở thành những hình ảnh hằng ngày, lặp lại nhiều lần tạo thành “vết nhăn” trong vỏ não… Quy định từ trách nhiệm đến thái độ rõ ràng trong việc tiếp dân của cán bộ trong Luật tiếp công dân có hiệu lực từ ngày 1/7/2014 kì vọng đổi thay những “quá khứ” xấu xí này.

Nhiều hạn chế của công tác tiếp dân

Công tác tiếp dân là một công tác quan trọng. Thông qua tiếp dân, cán bộ lãnh đạo sẽ có cơ hội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những băn khoăn, trăn trở của nhân dân. Đây cũng là sự thể hiện bản chất của nhà nước ta, Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Mặc dù, công tác đó rất quan trọng nhưng ở đâu đó ta vẫn nghe chuyện công tác tiếp dân “có vấn đề”.

Trên thực tế, trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật có quy định về hoạt động tiếp công dân nhưng nội dung, cách thức tổ chức tiếp công dân theo các văn bản quy phạm pháp luật này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

Luật Tiếp công dân được kỳ vọng sẽ có những chế tài mạnh đối với cán bộ thiếu trách nhiệm trong công tác tiếp dân,  khắc phục những nhược điểm của công tác tiếp dân trước đây. (Ảnh minh họa)
Luật Tiếp công dân được kỳ vọng sẽ có những chế tài mạnh đối với cán bộ thiếu trách nhiệm trong công tác tiếp dân, khắc phục những nhược điểm của công tác tiếp dân trước đây. (Ảnh minh họa)

Thực tế thì nhiều nơi không coi trọng việc tiếp dân. Đơn giản nhất là việc tiếp xúc qua điện thoại. Nhiều cán bộ ngại, không nghe thậm chí quát nạt dân. Nhiều người né tránh tối đa việc tiếp xúc ấy với dân. Tất nhiên cán bộ thì nhiều việc, có thể lúc này lúc khác bận nên không thể trả lời điện thoại. Nhưng nếu cán bộ cố tình không trả lời dân. Có điện thoại là tắt máy luôn. Nói rằng không tiếp dân… Những điều đó gây bức xúc cho dân.

Hiện tượng người dân phải đi khiếu kiện kéo dài tại các cơ quan trung ương đã từng gây nhức nhối. Người dân từ khắp các nơi kéo về Văn phòng tiếp công dân của T.Ư Ðảng và Nhà nước (số 1 Mai Xuân Thưởng, Ba Ðình, Hà Nội). Việc kiện tụng, tố cáo của dân cũng muôn hình muôn vẻ, người thì kiện vì buộc thôi việc vô lý hoặc bị trù dập, người thì kiện vì tranh chấp đất đai nhà cửa hoặc giải tỏa đền bù không đúng chế độ…

Con đường khiến nhiều người dân phải “khăn gói quả mướp” lên tỉnh, ra Hà Nội để khiếu nại, tố cáo (KNTC) thật muôn hình vạn trạng, khó mà nói cho hết. Có nhiều lý do khác nhau khi giải thích về tình trạng khiếu kiện của công dân năm sau cao hơn năm trước và ngày càng có xu hướng phức tạp, kéo dài: Kinh tế phát triển, mối quan hệ xã hội đa dạng kéo theo các mâu thuẫn, tranh chấp; công cuộc đô thị hóa, công nghiệp hóa cần đất phải giải tỏa đền bù và phát sinh khiếu kiện; rồi pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, hiểu biết của người dân thì hạn chế dẫn đến khiếu kiện không đúng, kiện lấy được… Song dù thế nào thì yếu tố chủ quan từ phía các cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, vẫn là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp nhất. Nếu vụ việc KNTC được xem xét giải quyết thấu tình đạt lý ngay từ cơ sở, thì đâu có chuyện khiếu kiện vượt cấp phức tạp như hiện nay.

Thực tiễn đã chỉ ra nhiều vấn đề làm hạn chế công tác tiếp dân. Thứ nhất, quy định pháp luật hiện hành chưa rõ về trách nhiệm dẫn đến tình trạng đùn đẩy, né tránh vẫn xảy ra mà người chịu trách nhiệm tiếp dân theo quy định không làm tròn vẫn không bị ảnh hưởng gì, trong lúc người dân mong muốn những vấn đề của mình sớm được giải quyết.

Thứ hai, địa điểm tiếp dân, theo quy định hiện hành thì trụ sở tiếp công dân chỉ là địa điểm để đón tiếp công dân trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; là nơi nhận đơn, yêu cầu của người dân để phân loại, chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Phòng tiếp dân được tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện còn cấp cơ sở thì không quy định rõ. Trước đó chỉ tập trung vào “một cửa”, nhưng chức năng của “một cửa” ở cơ sở chủ yếu là giải quyết thủ tục hành chính nhằm giải quyết nhanh chóng công việc của dân làm giảm phiền hà cho dân chứ không phải để tiếp nhận, giải quyết ý kiến, khiếu nại, tố cáo của công dân. Vì vậy, ở cấp cơ sở tạo nên tình trạng người nào, nơi nào trong trụ sở cũng tiếp dân được nhưng cũng không ai trả lời, giải quyết đươc vấn đề của dân, trừ chủ tịch UBND cấp xã (mà người này thì dân lại khó gặp nhất).

Thứ ba, đội ngũ làm công tác tiếp dân còn hạn chế về trình độ, năng lực. Không ít người tiếp dân chưa nắm bắt được các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề người dân có ý kiến. Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011, chưa được phổ biến về tận cơ sở và chưa được phổ biến kỹ trong đội ngũ cán bộ, công chức nên trong thực tế còn nhiều bất cập, pháp luật chưa được thực hiện nghiêm, quy trình, thủ tục tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân chưa đảm bảo.

Thứ tư là, thực tế công tác tiếp dân đã có những trường hợp có các phần tử quá khích lợi dụng các buổi tiếp dân để kích động, quấy rối, hoặc có những công dân đưa ra những đòi hỏi quá đáng, phi lý v.v…đẩy cán bộ tiếp dân vào thế bị động, lúng túng để từ đó, tạo điều kiện cho các phần tử xấu, có cơ hội nói xấu chính quyền, xuyên tạc sự thật, tung tin thất thiệt gây mất lòng tin trong nhân dân. Thậm chí có những trường hợp mặc áo tang, đưa quan tài, kéo đông người đến nơi tiếp dân làm mất trật tự an ninh công cộng.

Hành lang pháp lý mới cho hoạt động tiếp công dân

Luật tiếp công dân có hiệu lực từ 1/7/2014. Luật quy định về trách nhiệm tiếp công dân, quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân. Luật Tiếp công dân ra đời, một hành lang pháp lý đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước về tổ chức và tiếp công dân

Làm thế nào để tiếp dân, giải quyết được vấn đề cho dân là một trăn trở không dễ giải quyết?! (Ảnh: Một buổi tiếp công dân tại địa phương).
Làm thế nào để tiếp dân, giải quyết được vấn đề cho dân là một trăn trở không dễ giải quyết?! (Ảnh: Một buổi tiếp công dân tại địa phương).

Các quy định của Luật gồm 9 chương và 36 điều. Quy định việc tiếp dân của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều đặc biệt, tại chương III quy định rõ việc tiếp công dân của các chức danh Tổng Thanh tra Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân ở cấp mình ít nhất 01 ngày trong 01 tháng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện ít nhất 02 ngày trong 01 tháng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tiếp công dân tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã ít nhất 01 ngày trong 01 tuần… và đều thực hiện việc tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 18 của Luật này.

Đối với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí công chức thuộc Thanh tra cơ quan làm công tác tiếp công dân. Theo quy định tại Điều 18, Người đứng đầu cơ quan trong việc tiếp công dân có trách nhiệm: Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác tiếp công dân của cơ quan mình; Ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; Bố trí địa điểm thuận lợi cho việc tiếp công dân; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ việc tiếp công dân; Phân công cán bộ, công chức làm công tác tiếp công dân thường xuyên; Phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan tiếp công dân và xử lý việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về một nội dung; Kiểm tra, đôn đốc cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có trách nhiệm thuộc quyền quản lý của mình thực hiện các quy định của pháp luật trong việc tiếp công dân; Có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân; Báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trực tiếp thực hiện việc tiếp công dân ít nhất 01 ngày trong 01 tháng tại địa điểm tiếp công dân của cơ quan mình;

Thực hiện tiếp công dân đột xuất trong các trường hợp sau đây: Vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến của các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn khác nhau; Vụ việc nếu không chỉ đạo, xem xét kịp thời có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc có thể dẫn đến hủy hoại tài sản của Nhà nước, của tập thể, xâm hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Khi tiếp công dân, người đứng đầu cơ quan phải có ý kiến trả lời về việc giải quyết vụ việc cho công dân. Trường hợp chưa trả lời ngay được thì chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý của mình kịp thời xem xét, giải quyết và thông báo thời gian trả lời cho công dân.

Sự ra đời của Luật này đã tạo một hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh về tổ chức và tiếp công dân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, để từ đó nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành cũng như những người có trách nhiệm khác trong việc tiếp dân, góp phần giải quyết chặt chẽ các vấn đề của dân đảm bảo công khai, dân chủ.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Nghị định số 64/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/8/2014.

Với tất cả những quy định rõ ràng của luật và văn bản dưới luật như đã nói ở trên, hi vọng khi đi vào thực tế Luật sẽ phát huy được tác dụng, khắc phục những yếu kém của công tác tiếp dân, đáp ứng được kì vọng của người dân về công tác này.

Mai Mai

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *