Chuyên đề: Chung tay hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế xin cho (Kỳ 1)

(Pháp lý) – LTS: Trong phiên họp thường kì tháng 4/2016 cũng là phiên họp đầu tiên của Chính phủ khoá mới, như thường lệ Chính phủ đã thảo luận tình hình kinh tế – xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2016. Đáng chú ý, một quyết tâm quan trọng của lãnh đạo Chính phủ được ghi nhận tại phiên họp là: Chính phủ chuyển phương thức chỉ đạo điều hành từ mệnh lệnh hành chính sang Chính phủ kiến tạo và phục vụ. Song song với việc phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng thị trường, hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế xin – cho… Đây là một chủ trương đúng đắn của Chính phủ được toàn dân ủng hộ. Đồng hành cùng Chính phủ, từ số báo này, Pháp lý xin điểm lại những ngóc ngách tồn tại của cơ chế XIN – CHO , đồng thời cùng các chuyên gia pháp luật – kinh tế hiến kế và đề xuất giải pháp để khắc phục vấn đề trên một cách có hiệu quả nhất.

Bài 1: Ở ta xin từ hạt gạo đến dự án: Lý do to hơn… mục đích

Hiện tượng xin cho xuất hiện trong mọi ngóc ngách của đời sống xã hội ta. Từ xin trợ cấp như hạt gạo cứu đói, đến xin chỉ tiêu giáo dục, chỉ tiêu con người, xin dự án… Có hiện tượng, không nên đi xin cũng xin, cái cần xin chính đáng bị làm khó, không nên được quyền xin cho cũng lại giữ quyền này… Điều đáng nói là cả ở hai phía xin và phía cho đều bộc lộ những hạn chế dễ nhận ra.

Xin mà được thì tội gì chẳng xin?

Như lẽ thường, vào những dịp cuối năm các tỉnh thành của cả nước có “phong trào” xin gạo cứu đói. Năm 2015, có 15 tỉnh đề nghị cấp gạo cứu đói dịp tết và giáp hạt. 15 tỉnh xin cấp gạo cứu đói dịp tết và dịp giáp hạt gồm: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng, Yên Bái, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Kon Tum.

Tỉnh nghèo, gặp khó khăn xin gạo cứu đói đã đành nhưng tỉnh giàu cũng đề xuất xin gạo. Theo đó, 3 tỉnh đề xuất nhiều nhất là Quảng Bình cần 5.200 tấn, Quảng Trị cần 4.300 tấn, Nghệ An cần 4.200 tấn, đây là ba tỉnh năm vừa rồi chịu thiệt hại nặng nề do các đợt thiên tai, bão lũ liên tiếp. Tuy nhiên, Khánh Hòa báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế năm 2013 của tỉnh Khánh Hòa, GDP của tỉnh tăng 8,3% so với năm 2012, thu ngân sách đạt 11.335 tỉ đồng, tăng 16% so với năm 2012 và bằng 108% dự toán năm 2013. Tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm còn 4,26%, thấp hơn tỉ lệ bình quân của cả nước (7,8%)… cũng xin cứu đói. Giáp Khánh Hòa, Phú Yên từ lâu được mệnh danh là “vựa lúa của miền Trung”, tốc độ tăng trưởng kinh tế – xã hội đạt 10,67%, vượt kế hoạch năm 0,07%, năng suất lúa tăng cao, tỉ lệ hộ nghèo giảm… dù vậy Phú Yên vẫn xin Chính phủ cấp 761 tấn gạo cứu đói.

“Xin – Cho” là khởi nguồn của tiêu cực trong nhiều lĩnh vực (ảnh minh họa)
“Xin – Cho” là khởi nguồn của tiêu cực trong nhiều lĩnh vực (ảnh minh họa)

Một mặt các tỉnh xin gạo cứu đói nhưng mặt khác họ lại tổ chức bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Thân 2016. Điều này khiến dư luận đặt câu hỏi, có phải đi xin gạo là thực sự khó khăn hay xin được thì ta cứ đi xin? Cụ thể, UBND tỉnh Nghệ An đã lập Ban Chỉ đạo bắn pháo hoa mừng Xuân Bính Thân năm 2016, nguồn kinh phí ước tính hơn 500 triệu đồng; Tỉnh Ninh Thuận cũng tổ chức bắn pháo hoa kinh phí dự kiến khoảng 450 triệu đồng; Tỉnh Quảng Nam cũng tổ chức bắn pháo hoa ở 2 điểm, dự kiến kinh phí khoảng hơn 1,3 tỉ đồng. Tỉnh Quảng Trị cũng lập kế hoạch bắn pháo hoa đêm giao thừa ở trước Trung tâm Văn hóa tỉnh trong khoảng 15 phút, kinh phí “từ nguồn ngân sách, khoảng vài trăm triệu đồng, nếu có đơn vị nào tài trợ, ủng hộ thì sẽ bắn pháo hoa nhiều hơn…”. Lý do bắn pháo hoa mà các tỉnh nói ra tưởng cũng rất đúng đắn nhưng các tỉnh còn khó khăn, phải xin gạo cứu đói mà lại tổ chức bắn pháo hoa thì lãng phí, chẳng khác nào bắn… gạo lên trời.

Đúng là lí do to hơn mục đích…

Xin chỉ tiêu biên chế, cho nhiều hóa thừa!

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thường xuyên có đề nghị với Bộ nội vụ tăng biên chế với lý do thành phố này có tốc độ phát triển đô thị nhanh với quy mô lớn, TP HCM cần bộ máy, nhân sự thực hiện nhiệm vụ chính trị và quản lý nhà nước theo yêu cầu. Theo đó, số biên chế của đơn vị này từ 2004 đến 2015 luôn vượt quy định của Bộ Nội vụ. Từ năm 2004-2015, UBND TP đã phân bổ biên chế hành chính nhiều hơn so với biên chế hành chính mà Bộ Nội vụ giao.

Điều đáng nói là số biên chế mà thành phố HCM phải xin tăng thêm hưởng lương ngân sách. Lý do mà Thành phố Hồ Chí Minh buộc phải tăng biên chế liệu có đơn thuần như vậy không? Liệu có phải chừng ấy biên chế tuyển vào đều để làm việc phục vụ nhu cầu phát triển hay không? Dư luận vẫn đặt nhiều câu hỏi bởi thực tế ở địa phương này có hiện tượng “lạm phát” cấp phó. Cụ thể, Sở Nội vụ TP HCM cho biết đến 7/2015 số lượng công chức, viên chức giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở và tương đương trong các cơ quan, đơn vị và giữ chức vụ phó trưởng phòng – ban chuyên môn các sở, ngành, quận, huyện trên địa bàn là 1.533 người. 6 đơn vị có cấp phó giám đốc nhiều hơn quy định là Văn phòng UBND TP, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương. Câu chuyện của TPHCM khiến dư luận đặt câu hỏi, tăng chỉ tiêu biên chế công chức để phục vụ nhu cầu phát triển là đúng đắn, tuy nhiên liệu bộ máy hiện có đã làm hết năng lực hay chưa? Đồng thời liệu việc tăng thêm đó là do nhu cầu thực sự hay do tiêu cực trong công tác nhân sự?

Nặng nề trong xin cho, lãng phí nguồn lực xã hội

Ở ta hiện nay, có quá nhiều việc cần xin. Những cái xin ngụy biện nhưng cũng có những cái xin chính đáng mà lại gặp khó. Giáo sư Trần Phương, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cũng từng kể về gian nan khi đi xin: Khi tôi cùng mấy chục giáo sư nghỉ hưu xin phép thành lập một trường đại học (đương nhiên là trường ngoài công lập) thì phải mất 3 năm, qua rất nhiều cửa mới xin được cái giấy phép. Tiếp đó “xin” một héc-ta đất để xây trường (đây là một khoảnh đất trồng rau muống, những người trồng rau sẵn sàng nhường lại cho trường, tiền đền bù giải phóng mặt bằng thì do trường bỏ ra) vậy mà phải mất 7 năm, qua hơn 100 con dấu và chữ ký mới nhận được cái giấy phép.

Dự án xử lý rác thải rất cần nhưng để xin được đầu tư vào dự án kiểu này thì đúng là gặp gian nan ở mọi nẻo (ảnh minh họa)
Dự án xử lý rác thải rất cần nhưng để xin được đầu tư vào dự án kiểu này thì đúng là gặp gian nan ở mọi nẻo (ảnh minh họa)

 

Khi trường tôi muốn mở một ngành học thì cũng phải chờ ít nhất 6 tháng mới nhận được cái giấy phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hàng năm, trường được tuyển bao nhiêu sinh viên cũng phải chờ quyết định của Bộ.

Trong tất cả các trường hợp trên, người “cho” chỉ cho một chữ “đồng ý”, ngoài ra không có một thứ gì khác để cho cả. Còn người “xin” thì mất rất nhiều thứ, từ công sức, thời gian, cơ hội và – chẳng nói ra thì ai cũng hiểu – cả tiền “bôi trơn” nữa (đấy là không nói đến chuyện đút lót).

Xin thì do thực tế mà cho lại do quyền của cơ quan quản lý. Có không ít “hạng mục” xin cho chỉ để làm khó nhau. Vị giáo sư này cũng khẳng định là “người cho không đáng được cho”. Ông này dẫn một ví dụ, việc xin chỉ tiêu đào tạo. Đối với các trường đại học công lập, việc giao chỉ tiêu tuyển sinh là điều dễ hiểu. Vì ngân sách Nhà nước phải “bao cấp” tới 70-80% chi phí đào tạo cho mỗi sinh viên. Còn trường đại học ngoài công lập thì khác, loại trường này không nhận được một đồng trợ cấp nào từ ngân sách Nhà nước. Toàn bộ chi phí đào tạo, sinh viên phải thanh toán dưới hình thức học phí. Vì vậy, không thể vì lý do ngân sách Nhà nước mà khống chế chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học ngoài công lập.

Có ý kiến phản bác lại rằng: không khống chế chỉ tiêu tuyển sinh thì làm sao bảo đảm được chất lượng đào tạo? Lập luận này dựa trên một sự nhầm lẫn tai hại. Chất lượng đào tạo đâu có phụ thuộc vào số lượng sinh viên nhiều hay ít.

Việc xin và cho không khớp dẫn đến việc lãng phí rất lớn. Vị giáo sư này dẫn chứng, Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội – đã có nhiều năm rơi vào tình trạng phòng học bị bỏ trống, bỏ phí, nhiều giảng viên rơi vào tình trạng “bán thất nghiệp”; trong khi đó thì hàng ngàn thí sinh đủ “điểm sàn” để gọi nhập học nhưng không thể tiếp nhận vì chỉ tiêu tuyển sinh không cho phép. Trong những điều kiện như vậy thì hiệu quả kinh tế của trường gần như bằng không.

Vị giáo sư này cũng chỉ ra hạn chế của bên cho. Ông nói: Những chuyên viên của Bộ tính toán chỉ tiêu tuyển sinh để giao cho các trường thì chỉ biết mỗi năm tăng giảm bao nhiêu phần trăm, không cần biết đến quan hệ cân đối giữa số lượng sinh viên với đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất kỹ thuật của từng trường. Tính quan liêu của việc giao chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước cách đây nửa thế kỷ vẫn được duy trì nguyên vẹn ở Bộ Giáo dục và Đào tạo! Việc chỗ cho không đáng được giữ quyền cho – điều đó như giáo sư Phương nói là nó làm lãng phí nguồn lực của xã hội.

Xin dự án đầu tư gian nan muôn nẻo

Một ví dụ khác của việc xin là chính đáng nhưng lại gặp khó đó là xin dự án. Theo lẽ bình thường, một dự án nhóm C cũng phải mất 3-4 năm, nhóm B 4-5 năm, dự án nhóm A thì dài hơn… Khi dự án đã hoàn tất các bước sơ bộ như chấp thuận dự án, quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, tất nhiên nhà đầu tư có thể bắt tay vào triển khai dự án trên quy hoạch. Thế nhưng, doanh nghiệp lại phải thực hiện nhiều thủ tục khác trước khi chạm đích được điều mà mình mong đợi, chẳng hạn như phải bắt buộc có được giấy chứng nhận thẩm định phương án Phòng cháy chữa cháy của cơ quan Phòng cháy chữa cháy (PCCC).

Nếu may mắn trót lọt được một ải, doanh nghiệp lại phải chật vật với những ải tiếp theo. Thông thường, các chủ đầu tư hay vấp phải vấn đề “ngày hẹn”. “Ngày hẹn” thường được kéo dài vô thời hạn với nhiều lý do khác nhau. Cách duy nhất chỉ có thể là chờ đợi. Đôi khi để có một giấy chứng nhận PCCC phải mất 3 tháng.

Vấn đề rác thải là bức xúc của cả xã hội. Tuy nhiên nếu có tâm huyết và khả năng muốn làm một nhà máy để xử lý thu gom rác thải hay kiếm lời từ nó thì rất khó. Lý do là để được phê duyệt một dự án xử lý rác thải, phải tiếp đón rất nhiều đoàn tham quan. Ông khoa học công nghệ cũng quan trọng, ông tài nguyên môi trường cũng rất quan trọng, lại còn các ông kế hoạch, ông xây dựng… cả một đoàn như vậy nếu không chi đẹp sẽ rất khó. Lại còn đấu thầu nữa, quân xanh, quân đỏ, thủ tục hành chính trông thì có vẻ minh bạch nhưng thực chất thì toàn làm việc… “dưới gầm bàn”.

Khi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới được ban hành, nhiều người kỳ vọng hai bộ luật này sẽ thúc đẩy hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Thế nhưng thời gian trôi qua từ ngày luật có hiệu lực, nhà đầu tư nước ngoài vẫn gặp không ít trắc trở về mặt pháp lý trên chặng đường góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp không hiểu nổi doanh nghiệp mình hoạt động bao năm qua bình thường, nay có nhà đầu tư nước ngoài vào bỗng trở thành… dự án. Mà đã là dự án thì phải có thời hạn nhất định do Nhà nước cấp phép theo kiểu “thương thì cho dài, ghét thì rút ngắn”. Điều đó khiến doanh nghiệp rất nản lòng và sợ hãi.

Thực tế xin cho như vậy khiến cả xã hội không hài lòng và lo lắng. Nó dẫn đến không ít các hệ lụy trên thực tế.

Anh Tuấn (tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *