Chống lãng phí và những rào cản

(Pháp lý) – Hành vi gây thất thoát lãng phí bị coi là nguy hiểm cho xã hội nhưng đến nay ta chưa thể xử lý được người gây ra thất thoát, lãng phí bằng chế tài hình sự. Lý do là trước đó Bộ Luật Hình sự (BLHS) 1999 không quy định về hành vi và chế tài đối với hành vi này. Đến thời điểm này, BLHS 2015 đã có tội danh quy định về hành vi này (hiện BLHS đang bị hoãn thi hành). Nhưng trao đổi với Phóng viên Pháp lý, một số Luật gia, chuyên gia cho rằng để áp dụng điều Luật này cũng vướng mắc không ít…

>> Bài 1: Lãng phí hoành hành ở nhiều lĩnh vực

>> Phải rung tiếng chuông cảnh báo đối với người đứng đầu để xảy ra thất thoát, lãng phí

Lãng phí nghiêm trọng không kém tham nhũng. Nhưng chống lãng phí hiện nay đang chịu thách thức kép (ảnh minh họa)
Lãng phí nghiêm trọng không kém tham nhũng. Nhưng chống lãng phí hiện nay đang chịu thách thức kép (ảnh minh họa)

Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật đã có quy định về bồi thường thiệt hại trong thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Theo đó, người để xảy ra lãng phí sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Như vậy, người cố ý làm trái, làm lãng phí thì phải thực hiện trách nhiệm dân sự là bồi thường. Trường hợp gây thất thoát quá lớn thì phải xử lý kỷ luật, thậm chí bị xử lý hình sự.

Tuy nhiên chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng: Vấn đề là luật đã có, đã được ban hành nhưng số cá nhân, tổ chức bị xử lý về tội lãng phí chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính việc “giơ cao đánh khẽ” ấy đã vô tình tiếp tay cho những cá nhân, tổ chức nhờn luật. Tất cả những quyết định đầu tư lãng phí, rõ ràng thấy hệ quả, sai trái nhưng không thấy ai chịu trách nhiệm và cũng chưa có văn bản nào chỉ rõ để xem trách nhiệm người ra quyết định như thế nào.

Ở ta có hiện tượng khi ban hành một quyết định đầu tư, hay quyết định hành chính về thực chất là ý chí của một cá nhân nào đó. Tuy nhiên, khi xảy ra hậu quả về sự lãng phí hoặc không hiệu quả thì lại núp bóng an toàn trong các chủ trương của tập thể dẫn đến cá nhân vô can.

Việc chỉ đích danh địa chỉ trách nhiệm rất khó khăn. Lý giải điều này, TS Đinh Văn Minh (Thanh tra Chính phủ) nói: Thực tế này liên quan đến một vấn đề phức tạp là vấn đề trách nhiệm. Rõ ràng chúng ta có thể chỉ ra công trình này lãng phí, công trình kia bị bỏ hoang, hoặc cơ quan này thừa ô tô, nhưng việc chỉ rõ ai là người có trách nhiệm lại là việc rất khó.

Vì sao lại như vậy? Bởi vì, như chúng ta biết chế độ trách nhiệm thứ nhất là trách nhiệm tập thể, thứ hai để làm được một việc gì đó đâu phải chỉ một người quyết. Như chuyện công trình, phải có người lập dự án, có người phê duyệt, có người thẩm định, có người quyết định, có người giải ngân. Hay như chuyện xe, không phải cứ quyết là mua được đâu mà phải có kế hoạch, qua duyệt các cơ quan tài chính… tức là hàng loạt chủ thể tham gia vào việc đó. Vì vậy, nếu nói ai là người có trách nhiệm thì rất khó.

Tôi cho rằng, do chế độ trách nhiệm, nên khó ở chỗ chúng ta có quá nhiều người có quyền, nhưng cuối cùng xác định trách nhiệm của ai thì rất phức tạp. Không phải nhà nước không muốn, nhưng do cơ chế hiện nay chưa thay đổi được thì chúng ta đành chấp nhận câu chuyện chung chung gọi là “trách nhiệm của tất cả mọi người”.

Nếu như phân tích ở trên thì có lẽ rào cản của chống lãng phí hiện nay là do con người, do cơ chế. Nhưng thực tế lại cho thấy quy định của pháp luật cũng gây rào cản.

Rất nhiều hành vi lãng phí trước khi BLHS 2015 được thi hành có thể bị bỏ lọt vì trước đó BLHS 1999 không quy định về tội gây thiệt hại do lãng phí. Điều 179 của BLHS 2015 sửa đổi (đang bị tạm hoãn thi hành) đã có những quy định cụ thể để xử lý tội lãng phí. Tuy nhiên áp dụng điều luật này trên thực tế sẽ có không ít băn khoăn. Cụ thể:

Nội dung điều luật: Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

1. Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá 2.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều luật trên quy định về chủ thể đặc biệt – tức người quản lý trực tiếp, có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời có hành vi thiếu trách nhiệm (vi phạm các nguyên tắc, chế độ quản lý tài sản của nhà nước) để xảy ra thiệt hại. Như vậy quy định này chỉ xử lý được các lãng phí của người trực tiếp quản lý, và những thiệt hại mà hành vi và hậu quả có liên hệ trực tiếp. Tuy nhiên những lãng phí lớn, nghiêm trọng xảy ra gián tiếp, đồng thời vẫn được lý giải là “đúng quy trình” như lãng phí trong quản lý tài nguyên, quyết định đầu tư sai lầm lại không thể xử lý.

Như vậy, xử lý trách nhiệm người gây ra thất thoát, lãng phí đang chịu thách thức kép: Từ trách nhiệm cá nhân cụ thể đến sự thiếu sắc bén của luật.

Minh Minh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *