Cấp thiết sửa những qui định về trách nhiệm bồi thường của công chức

(Pháp lý) – Với 10 bài báo đã được đăng tải, chuyên đề “Chung tay cải cách chất lượng công chức Việt” do nhóm Phóng viên chuyên mục Từ cuộc sống đến Nghị trường của Tạp chí Pháp lý thực hiện đã nhận được sự cộng tác, hợp tác tích cực và trách nhiệm của nhiều Đại biểu Quốc hội, Luật gia, Chính trị gia, Nhà khoa học. Mới đây, Ban Biên tập tiếp tục nhận được những ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý và luật sư có tâm huyết góp ý sửa đổi Luật Cán bộ, công chức, viên chức và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Theo các ý kiến góp ý thì đây là hai đạo luật quan trọng, tới đây Quốc hội cần sửa đổi, bổ sung để làm cơ sở pháp lý góp phần cải cách chất lượng, tăng cường trách nhiệm công chức và loại thải  công chức yếu kém.

>>bài 7: Đi làm thủ tục hành chính vẫn phải “bôi trơn” thì cửa mới mở nhanh?

>>bài 8: Khó cải cách chất lượng công chức vì Luật chưa đi vào cuộc sống

>>bài 9:  Kỉ luật như thế… ai cũng thích kỷ luật?

>>bài 10: Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cảnh báo về lợi ích nhóm trong bổ nhiệm cán bộ

PGS. TS Nguyễn Văn Vĩnh: Phó Viện trưởng Viện chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Muốn loại công chức yếu kém, cấp thiết phải sửa Luật

PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh

Tôi cho rằng Luật Cán bộ, công chức, viên chức hiện nay chưa chặt chẽ, chính bởi vậy yêu cầu sửa đổi luật là khá cấp thiết. Chúng ta cần sửa đổi luật từ những bức xúc của đời sống. Theo tôi, đối với từng ngành nghề của công chức ở các khối hành chính, khoa học, xã hội, kỹ thuật…đều phải có những đòi hỏi về tiêu chí đối với mỗi chức danh công chức, viên chức cụ thể riêng. Mỗi ngành nghề này cần có thêm những văn bản cụ thể hóa, chính xác hóa, khoa học hóa những yêu cầu, đòi hỏi với công chức làm việc trong từng vị trí. Từ đó mới có cơ sở đánh giá chất lượng công chức, mới có cơ sở loại bỏ những công chức yếu kém.

Từ lâu chúng ta thiếu cơ chế, tiêu chí rõ ràng để đánh giá chất lượng công chức. Nên thực tế, “tốt cũng như xấu”,  “cá mè một lứa”… Do đó cần sớm có hệ thống đánh giá công chức mới, tránh dân chủ hình thức, thi đua hình thức. Có cơ chế đánh giá được công chức rồi thì khi công chức không hoàn thành nhiệm vụ, bị dân kêu, ta dựa trên những căn cứ ấy mà loại thải công chức”.

Ông Vĩnh góp ý thêm: “Cải cách công chức phải gắn với cải cách hành chính. Một công việc hỗ trợ nữa ta cần làm gấp là cần sớm số hóa các loại thẻ và giấy tờ có tính chất pháp lý để công dân đỡ vất vả. Từ đó sẽ góp phần để bộ máy đỡ cồng kềnh, kiểm soát được những sai phạm của công chức và tiến tới chấm dứt tình trạng dân đi làm việc gì cũng gặp các loại “cò”, không qua “cò” thì phải “bôi trơn” cho cán bộ, việc mới thông.

Một vướng mắc nữa cần sửa đổi bổ sung trong Luật Cán bộ, công chức, viên chức đó là cơ chế thưởng phạt cần rõ ràng nghiêm minh mới khuyến khích được người giỏi, loại người kém. Cần quy định rõ ràng về thưởng phạt, có thể gắn với lợi ích kinh tế, chức vụ khi xem xét khen thưởng hay xử phạt. Qui định về trách nhiệm người đứng đầu cũng cần phải rõ ràng. Tình trạng cấp trên bao che cho cấp dưới cũng là nguyên nhân dẫn đến chất lượng công chức ngày càng kém, xử phạt công chức khó.

Luật sư Nguyễn Huy Thiệp, Phó chủ nhiệm Đoàn luật sư TP. Hà Nội: Cần sửa những quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và công chức làm khó người bị thiệt hại…

Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước đã được Quốc hội thông qua hơn 3 năm. Tuy nhiên sau 3 năm đi vào cuộc sống, luật còn những tồn tại phải xem xét sửa đổi.

Luật sư Nguyễn Huy Thiệp

“Hiện nay trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ quy định chung đối tượng được bồi thường là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn hại về tinh thần trong các trường hợp quy định của Luật. Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì chưa quy định. Tôi cho rằng cần bổ sung đối tượng (như người nước ngoài, tổ chức quốc tế). Phạm vi được bồi thường cũng cần mở rộng: ngoài bồi thường thiệt hại vật chất, tinh thần, phải tính đến những thiệt hại về tài sản hình thành trong tương lai”.

Luật sư Thiệp nhấn mạnh: “Trong luật hiện nay, chúng ta cũng đã “quên đi” rất nhiều trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chức gây ra. Thực tế có những trường hợp cơ quan Nhà nước ký hợp đồng mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân hoặc ban hành văn bản pháp luật sai trái gây thiệt hại, tổn thất cho dân, cho doanh nghiêp…chưa được Luật qui định rõ. Hoặc những thiệt hại tính mạng phổ biến như mưa bão làm ngập đường nhưng hố ga mở làm người đi đường bị cuốn xuống hố ga và chết đuối. Hoặc tình trạng cây xanh trong thành phố gẫy đổ trong mưa bão đè bẹp xe qua đường, làm chết người. Nhiều người cho rằng đó là sự kiện bất khả kháng và không có trách nhiệm bồi thường ở đây. Tuy nhiên tôi cho rằng có trách nhiệm của các công ty quản lý đô thị, nơi được giao nhiệm vụ trong việc đảm bảo hoạt động, đảm bảo an toàn trong trật tự đô thị. Trách nhiệm bồi thường nhà nước chưa được tính đến tức là trách nhiệm của người công chức làm việc cũng bị bỏ ngỏ…Những trường hợp này cũng cần đặt ra để xem xét bồi thường.

Điều 6, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án dựa trên các căn cứ: Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi  trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này… và có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại”.

Qui định như ở Điều 6 dẫn chiếu trên, cho thấy “cả hai căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đều thách thức người bị thiệt hại” – Luật sư Nguyễn Huy Thiệp khẳng định. Lý do là mối quan hệ bồi thường này vốn là quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là Nhà nước và một bên là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Người bị thiệt hại để có được văn bản xác định hành vi sai trái của người thi hành công vụ là cả một vấn đề vì không ai dám thẳng thừng nhận sai, họ còn đùi đẩy trách nhiệm chứ không nói đến việc ra văn bản công nhận vi phạm. “Tôi cho rằng vấn đề này tới đây những nhà làm luật cần nghiên cứu khắc phục, sửa đổi, bổ sung bằng việc người bị thiệt hại có thể dùng các văn bản hoặc tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh việc sai trái của người thi hành công vụ trong cơ quan có thẩm quyền”.

Trong điều 9 – Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định rằng người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh về thiệt hại thực tế đã xảy ra. Việc chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra cũng cả là một vấn đề khó khăn bởi người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức nhưng không có công cụ gì trong tay mà chứng minh chứng cứ là có thiệt hại thực tế xảy ra sẽ rất phức tạp thậm chí không có thể chứng minh được. Để thuận lợi cho yêu cầu của người bị thiệt hại, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần nghiên cứu và hoàn thiện quy định này tạo điều kiện thuận lợi trong thủ tục yêu cầu bồi thường.

Thủ tục giải quyết việc bồi thường được quy định trong Luật cũng có nhiều vấn đề. Điều 19 quy định về thương lượng việc bồi thường. Theo quy định này, sau khi thụ lý đơn và xác minh yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường tổ chức thương lượng và việc thương lượng phải được lập thành biên bản, kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường. “Ngoài mặt tích cực ra thì yêu cầu bắt buộc này sẽ kéo dài thời gian giải quyết mà người bị thiệt hại nhiều khi đã mất lòng tin nhưng không có sự lựa chọn khác, phải chờ thủ tục này xong mới được khởi kiện ra Tòa án. Điều này làm hạn chế quyền yêu cầu thuận lợi của người bị thiệt hại trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Người yêu cầu bồi thường mất rất nhiều thời gian, công sức để tiếp cận với đầy đủ thủ tục để yêu cầu bồi thường nhưng lại không được chọn một phương pháp tối ưu nhanh, gọn, đỡ tốn kém để được giải quyết mà bắt buộc phải thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Tôi cho rằng đây cũng là một thủ tục tăng thêm tính bất bình đẳng và làm khó người được yêu cầu bồi thường”, Luật sư Thiệp chia sẻ.

Có ý kiến cho rằng, có nhiều vụ việc mà trách nhiệm bồi thường của nhà nước là rất lớn nhưng trách nhiệm hoàn trả của công chức còn hạn chế (tối đa là 36 tháng lương). Trao đổi vấn đề này, luật sư Nguyễn Huy Thiệp nói: Tôi thì cho rằng, vấn đề về trách nhiệm hoàn trả cũng cần có sự nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung phù hợp để người thi hành công vụ đủ tự tin, yên tâm khi làm việc đồng thời có trách nhiệm cao hơn trong thực thi công vụ. Điều đó căn cứ vào mức sống, mức lương hiện tại của công chức.

PGS. TS Nguyễn Văn Mạnh (Nguyên Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh): Nên phát triển công cụ hỗ trợ pháp lý để giúp dân đòi bồi thường thiệt hại

PGS. TS Nguyễn Văn Mạnh hiện là Chi hội trưởng Hội luật gia, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Góp ý để cải cách chất lượng công chức Việt, ông đặc biệt tâm huyết. Ông chia sẻ những nhìn nhận của mình: “Trước hết, tôi cho rằng trong bộ máy hành chính thì công chức là người được ủy quyền, họ không phải là người làm thuê. Họ phải có quyền chủ động nhất định trong việc vận dụng luật để thực hiện quyền lực nhà nước một cách hợp pháp, hợp lý nhất cho một trường hợp cụ thể. Luật pháp luôn có những điều khoản cho phép người công chức có quyền chủ động này. Đó là quyền chủ động quyết định có thực hiện một hành vi quản lý hay không. Người công chức còn có quyền chủ động chọn phương án thực hiện.

PGS. TS Nguyễn Văn Mạnh

Tính đặc thù trong hoạt động của người công chức là anh ta phải có quyền chủ động quyết định theo lương tâm, tri thức và trách nhiệm trước pháp luật. Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước thực chất thể hiện sự cân nhắc giữa việc khuyến khích tinh thần dám chịu trách nhiệm vận dụng quyền chủ động được luật pháp cho phép với việc ngăn ngừa lạm dụng quyền lực nhà nước và sự vô trách nhiệm của công chức”.

“Tôi cho rằng một khi nhà nước thực hiện bồi thường một cách thỏa đáng cho những thiệt hại tính được bằng tiền và không tính được bằng tiền thì người dân sẽ đỡ thiệt hại mà việc tuân thủ pháp luật của cán bộ, công chức Nhà nước sẽ được tốt hơn. Tuy nhiên, nhìn vào kết quả giải quyết bồi thường ở cả 3 hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án thời gian qua cho thấy bước đầu quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại đã được thực hiện ở lĩnh vực tố tụng và thi hành án tuy nhiên lĩnh vực quản lý hành chính thì còn rất hiếm hoi. Lý do là việc căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường còn cứng nhắc và khó thực hiện. Theo tôi ngoài sửa đổi Luật này, để gỡ thế khó cho người dân, chúng ta cần phải phát triển công cụ hỗ trợ pháp lý, cụ thể trợ giúp pháp lý cho người nghèo để người dân có thể tiếp cận Luật, hướng dẫn hỗ trợ họ thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường khi có thiệt hại ”.

(Còn nữa…)

Phan Tĩnh – Lan Hương (thực hiện)

>>Bài 1:  Công chức…và những chuyện khiến dân thấy “oải”

>>Bài 2: Yếu kém do đâu?

>>Bài 3: Chất lượng và đạo đức Công chức nhìn từ những vụ Giáo sư, Tiến sỹ “đạo văn”

>>Bài 4:Ý kiến của các nhà khoa học và ĐBQH

>>Bài 5: “Công bộc của dân” và những quyết sách xa dân

>>bài 6:Phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội – Lê Như Tiến: Cần có cơ chế để dân loại công chức yếu kém ra khỏi bộ máy hành chính

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *