Các chuyên gia pháp luật kinh tế phân tích, bình luận và cảnh báo về kinh tế “ngầm” với Trung Quốc

(Pháp lý) – Thời gian qua, dư luận xôn xao về kinh tế “ngầm” với Trung Quốc đang ở cấp độ 3 và số liệu xuất nhập khẩu có sự chênh lệch rất lớn giữa hai nước đã khiến người dân lo lắng. Liệu qua những con số này, Việt Nam có nên lo lắng? Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với hai chuyên gia pháp luật kinh tế Thạc sỹ Luật Trần Văn Hà và ông Vũ Văn Nhất – chuyên gia pháp lý Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á. Hai chuyên gia đã đưa ra những ý kiến phân tích, bình luận, cảnh báo hết sức đáng để chúng ta lưu tâm.

Thấy gì từ số liệu chênh lệnh lớn?

Những số liệu thể hiện sự chênh lệch lớn trong thống kê xuất nhập khẩu năm 2014 của Việt Nam và Trung Quốc mà đại biểu Quốc hội Bình Dương Mai Hữu Tín nêu ra trong phiên họp đánh giá bổ sung tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước hôm 8/6 đã làm “nóng” Nghị trường và khiến báo chí sôi nổi. Cụ thể, ông Tín dẫn số liệu thống kê từ phía Trung Quốc cho thấy trong năm 2014, nước này nhập khẩu của Việt Nam 19,9 tỷ USD, cao hơn 30% so với con số công bố của Việt Nam (14,9 tỷ USD). Trung Quốc cũng xuất khẩu vào Việt Nam 63,7 tỷ USD chứ không phải 43,8 tỷ USD như con số công bố của Việt Nam. Nghi ngờ trong số gần 4 tỷ USD chênh lệch có xuất khẩu lậu từ Việt Nam sang Trung Quốc, ông Tín đặt câu hỏi “Tại sao có xuất khẩu lậu, trong khi chúng ta hết sức khuyến khích xuất khẩu?”. “Lời giải thích hợp lý kế tiếp chỉ là, đó là các mặt hàng Việt Nam cấm xuất khẩu hoặc xuất khẩu phải chịu thuế. Đó là những mặt hàng nào?Theo tôi, đó là tài nguyên, khoáng sản của Việt Nam.” ông Tín tự trả lời.

Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng thừa nhận chắc chắn Việt Nam có “kinh tế ngầm”
Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng thừa nhận chắc chắn Việt Nam có “kinh tế ngầm”

Mặc dù không “tin tuyệt đối” vào số liệu thống kê của Trung Quốc nhưng theo ông Tín, những con số này là “hiện tượng bất thường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đáng lo ngại” với kinh tế Việt Nam. Việt Nam cũng “không thể không tính giá trị của phần ngầm này khi thiết kế chính sách”. Lí giải về sự chênh lệch này, trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư Bùi Quang Vinh nói rằng sự chênh lệch là do mỗi bên có cách thống kê khác nhau và chuyện chênh lệch không chỉ xảy ra với mỗi Trung Quốc.

Trong khi đó, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng thừa nhận “chắc chắn có buôn lậu, chắc chắn có kinh tế ngầm”.

Nhìn nhận, đánh giá về số liệu này, Thạc sỹ Luật Trần Văn Hà cho rằng trong hai số liệu thống kê trên thì có thể số liệu thống kê của phía Trung Quốc là sát với thực tế hơn. Lý do theo ông Hà là với số liệu xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc (14,9 tỉ USD với 19,9 tỉ USD), thì Việt Nam chủ yếu là xuất nguyên liệu thô (như các loại khoáng sản, nguyên liệu thô…) vào thị trường Trung Quốc. Khi xuất khẩu thì các doanh nghiệp cố tình xuất lậu và không khai thuế, vì mặt hàng này khi xuất khẩu nhà nước không khuyến khích và đánh thuế mạnh. Nhưng khi nhập về Trung Quốc thì các doanh nghiệp của họ sẽ phải kê khai nhập khẩu để có thể được giảm trừ thuế. Còn khi nhập khẩu hàng từ Trung Quốc vào Việt Nam thì đa phần các doanh nghiệp không muốn kê khai mà đưa hàng lậu qua biên giới để trốn thuế. Và do vậy, chúng ta không có số liệu chính xác. Có lẽ số liệu chênh lệch trên thực tế sẽ còn cao hơn con số đó một vài tỉ đô la Mỹ, vì một điều đơn giản là các nhà quản lý chẳng bao giờ có thể biết được hết các giao dịch trên thực tế giữa hai quốc gia, các giao dịch giữa hai bên biên giới bao giờ cũng nhiều hơn con số mà nhà chức trách của cả hai phía biết được – ông Hà thẳng thắn.

Và sự chênh lệch về số liệu đó cũng cho thấy một điều là khả năng quản lý xuất nhập khẩu, thu thập số liệu và thống kê của chúng ta còn yếu kém. Nó báo động cho chúng ta biết một số lượng khổng lồ hàng hóa nhập lậu qua biên giới, thứ hàng hóa này không được kiểm định, kiểm dịch, không ai biết được chất lượng của nó ra sao, xuất xứ chính xác của nó từ nơi nào, chỉ biết được nó có nguồn gốc từ Trung Quốc hay chúng ta thường hay gọi đó là “hàng Tàu”. Và một số lượng tiền thuế khổng lồ không chuyển vào ngân sách mà lại chạy vào tư túi riêng của một nhóm người, và rồi nó tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp sản xuất, làm ăn chân chính của chúng ta.

Điều này giải thích tại sao nhiều doanh nghiệp của chúng ta phải đóng cửa, một phần vì ảnh hưởng của kinh tế chung, nhưng phần lớn là do không thể cạnh tranh được với hàng nhập lậu bất chính với giá rẻ hơn.

Còn ông Vũ Văn Nhất, chuyên viên pháp lý Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á thì nhìn nhận:

Thứ nhất, do đặc thù về vị trí, hai quốc gia có chung cả đường biên giới trên bộ và trên biển. Điều này một mặt rất thuận tiện cho việc thông thương buôn bán giữa hai nước nhưng cũng gây khó khăn cho công tác kiểm soát của cả hai quốc gia nói chung về lượng hàng hóa xuất và nhập. Theo đó, 30% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đi và con số chênh lệch lớn hàng nhập vào không được thống kê có thể lý giải là Nhà nước ta đã không kiểm soát hết được tất cả hàng xuất và nhập từ nước bạn. Điều này cũng là dễ hiểu do tình trạng buôn lậu qua biên giới hai nước là khá phức tạp và khó ngăn chặn. Tôi ngờ rằng con số không kiểm soát được trên thực tế còn nhiều hơn số liệu đưa ra.

Thứ hai, số liệu chênh lệch với lượng hàng hóa xuất và nhập nói lên điều gì? Phải chăng khả năng quản lý của Việt Nam là yếu kém hay là có tiêu cực? Do vậy cần nhìn nhận và đánh giá thẳng thắn vào các mặt của vấn đề để có phương án cụ thể. Yếu kém ở đâu thì khắc phục, bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần cảnh giác. Tiêu cực ở đâu thì tích cực phát hiện và kiên quyết nghiêm trị để tránh thất thoát tài sản của Nhà nước. Thứ ba, xem xét một cách toàn diện vấn đề, ở một khía cạnh khác, tôi lại thấy rằng có thể phía Trung Quốc cố tình đưa ra thông tin như vậy vì những toan tính riêng của họ. Có thể họ muốn hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Không loại trừ khả năng đó và tôi tin là Trung Quốc có dã tâm đó.

Có điều gì đó “bất thường”?

Có lẽ, việc Việt Nam nhập siêu lớn và phụ thuộc rất lớn vào nền kinh tế Trung Quốc không còn là chuyện gì mới mẻ. Tuy nhiên, nhìn nhận về sự chênh lệnh lớn giữa cán cân thương mại giữa hai nước khiến không ít chuyên gia kinh tế và người dân lo ngại. Thạc sỹ Luật Trần Văn Hà cho rằng, phải nói ngay là tôi thấy không bất ngờ với việc Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc và có sự chênh lệch trong số liệu của hai quốc gia. Nhưng với số liệu vênh nhau khổng lồ như trên là điều cực kỳ không bình thường. Bởi lẽ nếu xét trong bối cảnh nền kinh tế của nước ta với GDP chỉ khoảng 150 tỉ đô la Mỹ thì số chênh lệch 20 tỉ đô la là một con số vô cùng khổng lồ. Qua đó, gióng lên hồi chuông cảnh báo về số liệu thống kê của chúng ta chưa sát với thực tế và điều đó ảnh hưởng vô cùng lớn đến nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng đến dự báo kinh tế của Chính phủ, cũng như các báo cáo trình Quốc hội.

Tổ kiểm tra liên ngành tiến hành bắt giữ xe chở hàng lậu tại Lạng Sơn. (Ảnh internet)
Tổ kiểm tra liên ngành tiến hành bắt giữ xe chở hàng lậu tại Lạng Sơn. (Ảnh internet)

Một điều không bình thường khác đến giờ là chúng ta không thể nào giải thích thấu đáo được con số chênh lệch 20 tỉ đô la kia ở đâu ra và đi đâu?. Với Việt Nam, số 20 tỉ đô la là cực kỳ lớn, bằng khoảng 1/5 đến 1/6 nền kinh tế chứ không ít, nhưng các cơ quan Nhà nước chuyên trách ở cả Trung ương và địa phương lại không hề biết, không hề quản lý, mà phải nhờ Trung Quốc công bố thì chúng ta mới giật mình hỏi nhau ở đâu ra và có đúng không.

Sự chênh lệch cao như vậy nó cũng chứng tỏ nhiều vấn đề còn tồn tại bấy lâu nay của chúng ta. Tất nhiên, không phải chỉ có một năm mà con số nó đã vọt lên cao như vậy. Theo tôi dự đoán thì con số vênh trên chắc hẳn phải diễn ra hàng chục năm, thậm chí là hơn. Duy chỉ có điều những năm gần đây, tỉ lệ xuất siêu của Trung Quốc vào Việt Nam là quá cao thì chúng ta mới để ý. Tôi cũng xin nói thêm một chút là Hoa Kỳ cũng nhập siêu từ Trung Quốc, nhưng chỉ với khoảng 300 tỉ đô la nhập siêu (so với GDP của Hoa Kỳ vào khoảng 16.000 tỉ đô la/năm) thì đó là con số quá nhỏ, nhưng vậy mà người Mỹ vẫn biết từng đồng rồi hỏi nhau tại sao và đề ra giải pháp để giảm việc nhập siêu đó.

Còn ông Vũ Văn Nhất thì lại nhìn nhận vấn đề này tương đối thận trọng, ông Nhất cho rằng, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tính từ đầu năm đến hết tháng 12/2014, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước đạt hơn 298,24 tỷ USD; trong đó xuất khẩu đạt kim ngạch 150,19 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 148,05 tỷ USD. Cán cân xuất nhập khẩu của cả nước đạt mức thặng dư, tuy nhiên cán cân xuất nhập khẩu với Trung Quốc nói riêng thì lại thâm hụt đáng kể (tôi chỉ nhận xét về số liệu phía Việt Nam đưa ra). Theo đó, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 43,8 tỷ USD và xuất khẩu chỉ đạt 14,9 tỷ USD. Xuất khẩu chỉ chiếm gần 1/3 so với nhập khẩu từ Trung Quốc. Điều này cho thấy sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc là rất lớn ở thị trường Việt Nam, ngược lại hàng hóa Việt Nam không có sức cạnh tranh lớn ở Trung Quốc. Lý do một phần vì trình độ phát triển về sản xuất, kinh doanh của Việt Nam là yếu kém hơn Trung Quốc. Lẽ ra hàng hóa Việt Nam phải xuất sang Trung Quốc nhiều hơn gấp nhiều lần Trung Quốc xuất sang Việt Nam mới phù hợp vì thị trường Trung Quốc là thị trường rộng lớn, đông dân, do đó sức mua lớn.

Tuy nhiên sự chênh lệch cán cân thương mại khủng như vậy không chỉ đơn giản là do trình độ phát triển kinh tế xã hội. Những con số biết nói này dường như còn nói lên những toan tính và mục đích chính trị của Trung Quốc. Trung Quốc muốn thông qua việc chiếm lĩnh, chi phối thị trường hàng hóa Việt Nam để chi phối nền kinh tế Việt Nam, buộc nền kinh tế Việt Nam phải phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc. Từ đó dần chuyển sang chi phối và đưa nước ta phải phụ thuộc về chính trị.

Thực tế cho thấy, Trung Quốc tìm đủ mọi cách để gây tổn hại cho nền kinh tế Việt Nam: từ vụ việc tạo ra cơn sốt cây cảnh, nhập khẩu lá vải, … hay mưu đồ lớn hơn là nhập khẩu hầu hết lượng bô xít ở Tây Nguyên. Và qua cán cân thương mại chênh lệch khủng trên, Trung Quốc đã phần nào thực hiện được âm mưu chính trị đó. Trung Quốc đã vơ vét tài nguyên dưới hình thức nhập khẩu, để khi đất nước ta cạn kiệt tài nguyên thì sẽ xuất khẩu ngược lại cho chúng ta. Chính vì thế chúng ta phải hết sức thận trọng trong quan hệ buôn bán, xuất nhập khẩu với Trung Quốc.

Làm sao để tránh lệ thuộc?

Khi nói về “kinh tế ngầm” với Trung Quốc, có chuyên gia kinh tế đã phải thốt lên, một nền kinh tế quốc gia dù mở hay hội nhập đến thế nào cũng cần có một tấm áo giáp bảo vệ hiệu quả và vững chắc để bảo đảm sự cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng. Có vẻ như với Việt Nam chúng ta, chiếc áo giáp này đang rách, nếu như không nói rách càng nhiều trong giao dịch với phía Trung Quốc.

Thạc sĩ Luật Trần Văn Hà cho rằng, vấn đề này nghe có vẻ chua chát, song nó lại là thực tế rất rõ ràng. “Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến đó, dù có phần chua chát nhưng đó là thực tế rất rõ. Mỗi quốc gia, dù lớn mạnh hay kinh tế eo hẹp cũng sẽ cố gắng tìm cách để bảo vệ nhà sản xuất nội địa, chẳng có quốc gia nào muốn một nước khác đưa hàng hóa, dịch vụ của họ vào nước mình một cách dễ dãi, để cho họ “múa gậy vườn hoang”, bóp nghẹt doanh nghiệp của mình cả, các nước dù có nói ra hay không thì họ vẫn thừa nhận thực tế đó vì đó là tâm lý, cách ứng xử chung mà mọi người đều làm. Điển hình là Hoa Kỳ, đây là quốc gia nổi tiếng về tư duy tự do kinh tế.

Chúng ta phải thừa nhận đây là quốc gia đi đầu, có công vô cùng lớn trong việc khuyến khích giao thương, đầu tư, chuyển giao khoa học-công nghệ, kỹ năng quản lý… nhưng Hoa Kỳ cũng chính là nước mà họ lại bảo vệ thị trường của họ nhất. Mâu thuẫn ư? Tôi không cho là như vậy. Quốc gia nào cũng có những lợi ích riêng của mình và lợi ích quan trọng nhất là lợi thế về thương mại, vì đó mới chính là tiền, là công ăn việc làm, là quyền lực cả “cứng” lẫn “mềm”… và do vậy các quốc gia phải ra sức bảo vệ, phải mặc cho mình những “bộ áo giáp” tốt nhất, hay nói cho chính xác hơn đó là những công cụ bảo hộ doanh nghiệp nội địa, chẳng hạn như hàng rào thuế quan và phi thuế quan, các thủ tục, điều kiện khắt khe trong nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ… và theo tôi quan trọng nhất đó chính là những nhân viên hải quan. Ở những nước phát triển thì đây là đội ngũ rất chuyên nghiệp, liêm chính trong công việc, ứng xử có đạo đức và hết lòng vì tương lai quốc gia, họ nhận thức rằng việc làm của họ là công ăn việc làm cho người khác. Chính họ là những người sàng lọc sản phẩm để sao cho những hàng hóa tốt nhất cho dân họ sử dụng và tất nhiên, qua đó sẽ đào thải được những sản phẩm kém và nền “kinh tế ngầm” cuối cùng sẽ chẳng có cửa”.

Quay trở lại với Việt Nam, ông Hà cũng cho rằng không phải tới bây giờ ta mới nhận ra là mình đang mặc chiếc áo giáp đang rách trong giao thương với Trung Quốc. Nhiều thập kỷ qua, các thương nhân của Trung Quốc, với kỹ năng sành sỏi đi cửa sau đã nhiều lần làm kinh tế chúng ta lao đao. Chiếc áo giáp của chúng ta đã quá rách rồi và chúng ta phải may cái áo mới.

Đề cập tới giải pháp làm sao để tránh lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc, ông Hà nhấn mạnh, việc giảm thiểu sự lệ thuộc vào Trung Quốc được hay không phần lớn lại phụ thuộc vào chính chúng ta, chứ không phải các quốc gia khác. Khi mới đây, Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật TPA (đạo luật xúc tiến thương mại) cho phép Tổng Thống Mỹ quyền được đàm phán nhanh, điều này góp phần mở ra cơ hội cho các bên tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Tôi rất hi vọng là các thủ tục lập pháp ở Hoa Kỳ suôn sẻ để tạo thuận lợi cho các quốc gia hình thành và gia nhập TPP sớm, vì tất nhiên là Việt Nam cũng được hưởng lợi lớn từ khối mậu dịch khổng lồ này, càng sớm càng tốt. Những quốc gia tham dự vào TPP dù có mạnh đến đâu (Ví dụ như Nhật, Mỹ, …) mà chúng ta không biết tận dụng cơ hội để phát triển kinh tế thì chúng ta lại rơi vào vòng xoáy do chính mình không chịu bứt phá, mà điều này đã xảy ra vài lần, theo tôi được biết là những năm 1996-1997, rồi lại khoảng năm 2007 (sau khi gia nhập WTO) cho đến nay. Các lần đó chúng ta có cơ hội rất lớn nhưng lại bỏ lỡ. Tất nhiên, TPP, FTA… sẽ là chất xúc tác để chúng ta bớt lệ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc (vì trong TPP có các điều khoản quy định nguyên vật liệu, hàng thô… phải có nguồn gốc từ các quốc gia trong hiệp định này thì mới được ưu đãi thuế). Theo tôi, lúc này là thời điểm cực kỳ tốt để Nhà nước nắm bắt cơ hội tham gia TPP. Phải nói rằng đây là cơ hội lớn và các doanh nghiệp của Việt Nam cũng cần phải nắm bắt được cơ hội cho mình, nâng cao năng lực sản xuất để cạnh tranh với hàng Trung Quốc ngay tại Việt Nam và tiếp đó là hướng tới xuất khẩu.

Còn ông Vũ Văn Nhất đưa ra giải pháp, việc Việt Nam liệu có giảm thiểu được sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay không, rõ ràng câu trả lời là “Có”. Bởi lẽ việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do cho phép gia tăng cơ hội phát triển xuất khẩu rất cao. Khi mà các nước xóa bỏ thuế nhập khẩu. Tham gia vào TPP, Việt Nam sẽ trở thành một mắt xích trong quan trọng. Việc tham gia vào thị trường toàn cầu như vậy sẽ lớn hơn nhiều so với việc tự mình tìm thị trường. Từ đó, cả xuất khẩu và nhập khẩu, Việt Nam có thể cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng, tránh lệ thuộc quá mức vào một thị trường nào đó, cụ thể như Trung Quốc.

Hiện nay 70% nhập khẩu của Việt Nam ở khu vực Đông Á và 50% xuất khẩu cũng vào khu vực này. Trung Quốc là một thị trường rất lớn cho cả xuất khẩu và nhập khẩu. Bởi Trung Quốc có diện tích và dân số khổng lồ cũng như có chính sách sản xuất hàng hóa giá thấp một cách rất rõ ràng. Nên việc thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc cũng khó có thể diễn ra một sớm một chiều. Nhưng việc giảm thiểu một cách đáng kể vào sự lệ thuộc đó là tất yếu và có cơ sở vững chắc.

“Một số giải pháp cụ thể hơn có thể nêu ra. Thứ nhất, đánh giá và đánh giá lại thế mạnh của nền kinh tế Việt Nam; thế mạnh và thực tiễn trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam là trong những lĩnh vực nào, ngành hàng nào, xu hướng trong tương lai. Từ đó so sánh với các thị trường tương ứng: EU, Mỹ, Nga để điều chỉnh và cân bằng lại tỉ trọng xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với Trung Quốc. Thứ hai, tuyên truyền, nâng cao hiểu biết đặc biệt hiểu biết về pháp luật, hành lang pháp lý, khả năng cạnh tranh và chuẩn bị kỹ lưỡng các yêu cầu để doanh nghiệp Việt Nam có được năng lực để tham gia có hiệu quả vào sân chơi này. Điều này cần sự chung tay góp sức của tất cả các bên: Nhà nước, báo chí, các hiệp hội chuyên biệt và đặc biệt là doanh nghiệp”, ông Nhất nói.

Lạc Sơn (lược ghi)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *