Áp lực trả nợ lớn: Điều ngạc nhiên là…

Việt Nam nhận thức và nói đến vấn đề nợ công nhiều nhưng chưa có quyết sách gì để giải quyết, chuyên gia tài chính-ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu nói.

PV: – Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 2015 của Chính phủ tại kỳ họp cuối cùng của QH khóa XIII có nêu rõ, nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, nợ Chính phủ đã vượt giới hạn quy định. Trong khi đó, theo Bộ Tài chính, năm 2015, tiền trả nợ đã chiếm khoảng 16% tổng thu ngân sách. Trong năm 2016 con số trả nợ được báo cáo lên Quốc hội và Chính phủ dự kiến là hơn 24% tổng chi ngân sách. Cũng theo Bộ Tài chính, áp lực trả nợ của Việt Nam sẽ thực sự rơi vào giai đoạn 2022-2025 khi các khoản vay ODA chủ yếu đều đến hạn.

Ông chia sẻ như thế nào với áp lực trả nợ ngày càng lớn của Chính phủ Việt Nam? Theo ông, áp lực này vì sao ngày càng lớn như vậy? Đặt trong bối cảnh thành tích xuất khẩu Việt Nam chỉ ghi công FDI, cộng với doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu nhiều thua thiệt dẫn đến phá sản, chúng ta cần phải lo nghĩ về các món nợ trên như thế nào?

Chuyên gia tài chính-ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu
Chuyên gia tài chính-ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu

TS Nguyễn Trí Hiếu: – Đúng là áp lực trả nợ của Việt Nam càng ngày càng lớn, thể hiện qua nợ công của Chính phủ ngày càng tăng, trong khi nguồn thu ngân sách bị hạn chế, đặc biệt trong năm vừa qua khi giá dầu hỏa xuống thấp. Với nguồn thu bị giới hạn trong khi món nợ cần trả ngày càng nhiều thì áp lực trả nợ lớn là đương nhiên.

Vấn đề là tại sao áp lực đó lại lớn như vậy? Đó là do bội chi ngân sách. Kinh tế toàn cầu suy giảm, giá dầu xuống thấp (trước kia gần 150 USD/thùng, giờ xuống 40 USD/thùng) gây thiệt hại lớn cho kinh tế Việt Nam vì bị thất thu ngân sách. Trong khi đó, chi phí ngân sách ngày càng tăng cho tất cả các lĩnh vực từ quốc phòng đến an sinh xã hội, đầu tư công… từ đó dẫn tới bội chi ngân sách.

Có cách để đối phó với bội chi ngân sách, đó là phải có năng lực tài chính để đáp ứng chi phí, chẳng hạn thu thuế cao hoặc có những nguồn thu nhập khác. Nhưng điều đó rất hạn chế ở Việt Nam, vậy nên kết quả của bội chi ngân sách là Việt Nam tăng nợ lên để có tiền bù đắp nhưng điều đó lại khiến nợ công của Việt Nam ngày càng tăng.

Mặt khác, nợ nước ngoài chiếm gần một nửa tỷ trọng nợ công của Chính phủ và đây là loại nợ có áp lực nặng nề hơn nợ trong nước. Nếu nợ trong nước Chính phủ còn có thể gia hạn nợ, tái cơ cấu nợ, đảo nợ thì nợ nước ngoài không dễ làm như vậy, nhất là khi những nguồn vay ODA ngày càng hạn chế. Trước đây khi Việt Nam ở trong nhóm các nước nghèo thì được hưởng ODA với lãi suất ưu đãi, thời gian vay nợ dài, còn bây giờ Việt Nam đã thành nước có thu nhập trung bình nên thời gian vay nợ rút ngắn lại, lãi suất vay tăng lên, tức là mỗi năm riêng với nguồn vay ODA, Việt Nam phải trả nợ ngày càng nhiều hơn. Trong vòng 10 năm tới, mức này sẽ lên rất cao. Hiện tại, nợ công của Việt Nam chưa đến ngưỡng 65% nhưng cũng đã xấp xỉ và nó tạo ra rủi ro cho cả hệ thống tài chínhViệt Nam.

Trong khi đó, thực lực kinh tế Việt Nam còn rất yếu. Các mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị gia tăng cao của Việt Nam phần lớn là của doanh nghiệp FDI và Việt Nam phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài về chế biến. Chính vì thế, có thể nói xuất khẩu của Việt Nam là kết quả của việc thế giới gia công tại Việt Nam, đó không phải là điều đáng mừng. Những mặt hàng sản xuất từ chính nguyên liệu của Việt Nam chiếm tỷ trọng rất thấp trong cơ cấu hàng xuất khẩu. Chẳng hạn, đối với ngành dệt may, Việt Nam chỉ gia công, còn nguyên vật liệu nhập từ nước ngoài vào. Thành ra, nền kinh tế Việt Nam bề ngoài thì tăng trưởng tốt còn thực lực thì rất yếu.

PV: – Như ông đã nói, đến tháng 7/2017, Ngân hàng Thế giới sẽ chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam. Có thể coi đây là khó chồng khó với Việt Nam khi mà chúng ta không có các khoản vay ưu đãi để đầu tư phát triển, cũng như khó trông chờ các nguồn vay khác để trả nợ và đảo nợ? Việc phải ‘tốt nghiệp ODA’ này dự kiến sẽ mang lại những khó khăn như thế nào?

TS Nguyễn Trí Hiếu: – Đúng là Việt Nam đang ở tình trạng khó chồng khó nhưng nó cũng là hiện tượng tất yếu khi nền kinh tế phát triển. Trước kia kinh tế Việt Nam rất nghèo nên được hưởng nguồn vốn ODA ưu đãi, nhưng giờ chúng ta đã ra khỏi danh sách này nên đương nhiên phải trả một cái giá, đó là nguồn vốn ODA giới hạn lại với lãi suất cao.

Trong tình trạng hiện nay, khi gánh nặng nợ công cao, áp lực trả nợ ngày càng lớn có thể dẫn đến rủi ro cho Việt Nam: nếu không cẩn thận, Việt Nam vay quá nhiều nguồn vốn ODA dù trong tương lai không còn ưu đãi nữa thì sẽ rơi vào tình trạng không thể trả nợ.

PV: -Việt Nam đang ở thế khó vay quá nhiều và khó khăn trong việc thu xếp tiền để trả lãi và trả nợ (thu ngân sách hàng năm đang bị lo ngại không đủ tiền để chi đầu tư phát triển). Trong bối cảnh này, các nhà hoạch định chính sách cần phải nhìn nhận vấn đề thẳng thắn thế nào để đề ra đối sách? Việc các cấp lãnh đạo thừa nhận những khó khăn về nợ công tại diễn đàn Quốc hội mới đây có được coi là dấu hiệu của việc Việt Nam ý thức rõ về gánh nợ và khó khăn trong việc trả nợ hay không?

TS Nguyễn Trí Hiếu: – Chúng ta nhận thức rõ, nói đến vấn đề nợ công nhiều nhưng hiện tại chưa có quyết sách gì để giải quyết nợ công, điều này khiến tôi, là chuyên gia tài chính ngân hàng, rất ngạc nhiên.

Dĩ nhiên cơ quan quản lý luôn đưa ra những tuyên bố như cố gắng giảm nợ công, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ phải đồng bộ với nhau nhưng tất cả những cái đó mang tính chất nói nhiều hơn là làm, chứ chưa thấy đưa ra một chương trình hành động cụ thể nào (action plan).

Bởi vậy, trước hết phải đưa ra một chương trình hành động cụ thể, trong đó vấn đề nợ quốc gia phải được đặt lên hàng đầu. Thay vì đưa ra một hạn mức tương đối 65%/GDP là mức tối đa, Chính phủ nên đưa ra một hạn mức với con số tuyệt đối, chẳng hạn bao nhiêu tỷ USD để khi gần chạm đến hạn mức tuyệt đối này thì có báo động.

Nếu Việt Nam cứ đưa ra con số tương đối dựa trên GDP, hễ GDP tăng thì nợ công cũng tăng và không chạm vào điểm báo động. Việt Nam nên áp dụng chính sách tài khóa như nhiều nước vẫn làm, đó là con số nợ công phải có hạn mức bằng con số tuyệt đối để khi gần chạm là biết, Quốc hội và người dân có thể theo dõi được. Còn như ở Việt Nam, cái gì cũng tính theo phần thì vô cùng nguy hiểm.

Mặt khác, để cân đối được ngân sách thì vấn đề đầu tư công phải được nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Dĩ nhiên với một quốc gia như Việt Nam luôn phải chi phí nhiều cho an sinh xã hội, quốc phòng, giao thông vận tải… nhưng hệ thống hành chính của Việt Nam quá cồng kềnh, tiêu tốn nhiều nguồn lực tài chính. Cứ để bộ máy như hiện nay thì đến muôn đời Việt Nam cũng không giải quyết được nợ công.

PV: – Là một chuyên gia kinh tế, theo ông, Việt Nam nên làm như thế nào để thu xếp dần các khoản nợ này? Điều đầu tiên chúng ta cần làm để giảm áp lực nợ công là gì? Và nếu không làm được, nguy cơ với Việt Nam sẽ ra sao?

TS Nguyễn Trí Hiếu: – Trước hết, phải có chương trình trả nợ và chương trình này cần đưa ra Quốc hội, công bố cho dân chúng biết rằng mỗi năm Việt Nam phải trả nợ bao nhiêu, trả những khoản nào…

Vấn đề cần quan tâm là việc đảo nợ. Thời gian qua Việt Nam có đưa ra số biện pháp đảo nợ cũ thành nợ mới do nợ đến hạn không trả được phải tìm cách giãn thời gian trả nợ. Nhưng đây không phải là cách trả nợ, làm như thế chỉ khiến nợ chồng nợ mà thôi.

Thứ hai, Việt Nam cần cẩn trọng với những món nợ mới để có thể giới hạn được áp lực trả nợ mỗi năm của Việt Nam.

Thứ ba, xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam qua các công ty xếp hạng tín nhiệm quốc gia như Standard & Poor’s, Moody’s và Fitch Ratings phải được tăng lên. Nếu xếp hạng tín nhiệm thấp Việt Nam phải trả lãi suất cao khi đi vay trên thị trường tài chính thế giới.

Hiện tại Việt Nam được xếp hạng không khuyến khích đầu tư – mang tính đầu cơ (non-investment grad – speculative). Với xếp hạng đó, Việt Nam phải đi vay ở bên ngoài với lãi suất rất cao.

Điều này rất ít khi được Việt Nam và cả truyền thông đề cập. Ở các công ty như Standard & Poor’s, Moodys, Fitch Ratings sau khi xếp hạng tín nhiệm họ đều có các đánh giá như có triển vọng tốt, triển vọng bình thường hoặc không có triển vọng và Việt Nam cứ dùng đánh giá này, hễ được đánh giá có triển vọng tốt là rùm beng lên.

Nhưng thực tế, triển vọng tốt nghĩa là mức xếp hạng tín nhiệm đó có triển vọng sẽ thay đổi. Truyền thông cứ nhập nhằng chuyện này mà không bao giờ nói đến xếp hạng tín nhiệm thực sự của Việt Nam như thế nào và trong trường hợp đó sẽ không có ai nỗ lực để thay đổi xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam. Tôi cho rằng đây là điều chính phủ mới cần quan tâm.

Theo Bao Datviet

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *