“Thuốc” nào chữa trị tận gốc sự xuống cấp về đạo đức cho ngành y?

(Pháp lý) – Không phải ngẫu nhiên mà tại kì họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, phần chất vấn Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến mà đặc biệt là chất vấn về vấn đề y đức lại nhận được nhiều câu hỏi như vậy từ các đại biểu Quốc hội. Điều này cho thấy đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận không nhỏ những người làm trong ngành y tế đang có vấn đề nặng. Có tờ báo đã nhận xét một số bác sĩ hiện nay mắc bệnh “ung thư phong bì”. Nói như đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương thì tiêu cực trong ngành y tế, xuống cấp y đức được xem là “căn bệnh trầm kha” bởi thực trạng này đã kéo dài lâu nay và ngày càng trở nên trầm trọng, gây bức xúc trong nhân dân. Ngay cả bản thân vị “tư lệnh” của ngành y tế cũng phải thẳng thắn thừa nhận, tình trạng xuống cấp y đức và tiêu cực trong lĩnh vực y tế đang diễn ra rất phức tạp, chẳng khác gì cuộc đấu tranh dai dẳng giữa cái thiện và cái ác. Những nhận định, đánh giá trên cùng với thực tế cuộc sống cho thấy một điều rõ ràng rằng vấn đề y đức ở nước ta hiện nay đang ở mức “báo động” !

“Tắc trách” đến vô cảm !

Có lẽ cho đến nay chưa có một thống kê nào công bố đầy đủ danh sách các bệnh nhân tử vong tại các bệnh viện mà trong đó có một phần không nhỏ là do sự tắc trách của các y bác sĩ điều trị. Nhưng điểm mặt lại những vụ báo chí phản ảnh thời gian qua thì con số này cũng lên tới hàng trăm trong khi việc xử lý kỷ luật chỉ dừng ở mức “nội bộ” còn những vụ việc xử lý hình sự thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thực tế thời gian qua cho thấy tỉ lệ bệnh nhân tử vong trong khi đến khám và điều trị tại các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế là khá cao. Nguyên nhân của những cái chết thương tâm này lại đa phần chỉ được lý giải theo kiểu đổ lỗi khách quan do quá tải bệnh viện, chuyên môn, thiếu nhân lực…và lí do dễ “kết luận” nhất là kiểu “tai biến hiếm gặp”.

Trong số những vụ việc gây ra cái chết cho bệnh nhân thì có lẽ tai biến sản khoa chiếm số lượng nhiều nhất. Ví dụ như theo thống kê sơ bộ trên cả nước chỉ trong vòng 35 ngày (từ 18/4 đến 23/5/2012) đã xảy ra tới 8 vụ tai biến sản khoa cướp đi sinh mạng của 7 sản phụ và 5 trẻ sơ sinh. Trong 6 tháng đầu năm có 88 vụ tai biến thai sản thì trong đó có tới 64 vụ diễn ra tại các bệnh viện, cơ sở y tế. Điểm chung của các vụ tai biến này là: Kết quả khám, siêu âm trước sinh của mẹ và con đều “bình thường”; Sự việc đều xảy ra ở bệnh viện tuyến dưới và chủ yếu diễn ra về đêm; Gia đình bức xúc nhưng không nhận được lời giải đáp thỏa đáng từ bệnh viện, các báo cáo giải trình của bệnh viện đều cho thấy họ đã “làm đúng chuyên môn, xử lý kịp thời”, hoàn toàn không có phần giải trình trách nhiệm ?!

Khám chữa bằng BHYT vẫn còn chịu sự phân biệt đối xử. (Ảnh minh họa)

Một trong những bệnh viện có mức độ tai biến sản khoa nhiều nhất là Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi. Theo một thống kê chưa đầy đủ thì sơ bộ từ tháng 4/2012 đến nay đã có tới 5 vụ tai biến sản khoa cướp đi sinh mạng của 3 sản phụ và 5 trẻ sơ sinh (trong đó có một cặp song sinh). Những kết luận trong báo cáo giải trình của Sở Y tế Quang Ngãi cho thấy có những sự tắc trách đến kì lạ của những “lương y”, những “quy định về y đức”. Lời thề Hyppocrates về đạo đức ngành y… được học từ những ngày đầu khi bước vào ngành y cũng dường như bị lãng quên nhanh chóng. Chính vì vậy mà trong cái nghiệp này đôi lúc cũng có những “nhầm lẫn” tai hại. Không rõ là khả năng chuyên môn hay sự thiếu trách nhiệm trong nghề nghiệp mà vị bác sĩ mổ cho sản phụ Lê Thanh Thủy tại bệnh viện Phụ sản –Nhi Bình Dương sau khi khâu vết mổ lại khâu luôn cả… ruột vào thân tử cung khiến sản phụ tử vong ?! Rồi trường hợp của sản phụ Trần Thanh Nguyệt được BV Phụ sản Tiền Giang xác định là thai nhi đã chết nhưng không cấp cứu, không kịp thời xử lý thai lưu, mà lại đưa vào phòng chờ sinh gần 48 giờ dẫn đến thai phụ tử vong…

Không chỉ trung tâm y tế xã phường, trung tâm y tế huyện hay bệnh viện đa khoa các tỉnh mà ngay ở bệnh viện tuyến Trung ương như bệnh viện Phụ sản cũng để xảy ra trường hợp tương tự. Trường hợp tử vong của sản phụ Nguyễn Thị Hằng (Hà Đông, Hà Nội) chiều ngày 29/9/2012 là một ví dụ. Mặc dù vị giám đốc bệnh viện khẳng định không có chuyện bác sĩ kíp trực thờ ơ với bệnh nhân bởi công tác chăm sóc bệnh nhân trước khi xảy ra sự việc là rất tốt nhưng hai tin nhắn kêu cứu – hai “lời trăng trối” cuối cùng của sản phụ Hằng và những đề nghị của người nhà bệnh nhân trước đó đã tố cáo sự vô trách nhiệm của đội ngũ bác sĩ làm nhiệm vụ lúc đó.

Bên cạnh đó, ngoài các vụ tai biến sản khoa thì cũng có không ít những trường hợp bệnh lý khác bệnh nhân phải chịu cái chết “oan uổng” như cái chết của bệnh nhân Nguyễn Thế Khoát tại BV Đa Khoa Đức Giang – Hà Nội do sự “đủng đỉnh” bàng quan, lãnh đạm của “từ mẫu” trong việc không kịp thời sơ cứu. Rồi cái chết của bệnh nhân Mạnh Thị Hiến ở Bệnh viện Đa khoa Nghệ An khi đi mổ sỏi thận – một căn bệnh không phải là “vô phương cứu chữa” nhất là đối với một bệnh viện cấp tỉnh. Cái chết của bệnh nhân Mai Trung Kiên tại bệnh viện Pháp – Việt TPHCM do sự tắc trách và thiếu chuyên môn của êkip bác sĩ điều trị trong chuẩn đoán và xét nghiệm tình trạng bệnh lý. Tình trạng chết lâm sàng của bệnh nhân Trần Thị Tưởng tại BV Đa khoa Hà Nội khi bệnh nhân này đến điều trị tách nang mước ở thanh quản thì được giải thích là do bệnh nhân bị… sốc phản vệ nhưng nguyên nhân của sốc phản vệ thì ngay chính bác sĩ điều trị cũng không lí giải được….

Việc người nhà bệnh nhân bao vây bệnh viện vì thái độ làm việc tắc trách của các y bác sĩ đã không còn là “chuyện xưa nay hiếm”

Một vụ việc khác cũng gây xôn xao dư luận không kém là cái chết của bệnh nhân Nguyễn Thị Thu Phong khi đến khám bệnh ở phòng khám Maria. Cái chết của bệnh nhân Phong đã phanh phui việc sử dụng bác sĩ Trung Quốc “chui” không có bằng cấp, không đủ năng lực của phòng khám. Thế nhưng khi bàn về trách nhiệm thì trách nhiệm của phòng khám được đẩy vòng quanh, trách nhiệm quản lý cũng chỉ được Sở Y tế Hà Nội thừa nhận một cách chung chung. Rõ ràng ở đây vấn đề y đức là hết sức đáng bàn, sự tắc trách không chỉ dừng lại ở những “lương y” mà còn thể hiện ở bộ phận quản lý khi không một ai dám thẳng thắn đứng ra nhận trách nhiệm cá nhân.

Không ít các vụ tử vong do sự tắc trách, vô trách nhiệm của các “lương y” đã dẫn đến thưa kiện, thậm chí có vụ người nhà nạn nhân xông vào đập phá bệnh viện, rượt đuổi y – bác sĩ, gây mất trật tự xã hội. Những người có hành vi vi phạm pháp luật đương nhiên sẽ được xử lý theo pháp luật, nhưng cũng cần nhìn nhận vấn đề từ góc độ chuyên môn và trách nhiệm của y – bác sĩ. Hầu hết các ca tử vong đều được bệnh viện giải thích theo kiểu….“bất khả kháng”. Cõ lẽ đây là cách trả lời “an toàn” nhất, dễ “dùng” nhất và cũng thiếu trách nhiệm nhất, vô cảm nhất khi mà đối với hoạt động khám- chữa bệnh, có một nguyên tắc mang tính nhân đạo và khoa học, đó là thầy thuốc không thể chịu trách nhiệm về cái chết của bệnh nhân nếu như đã làm hết khả năng và trách nhiệm.

Khi “lương y” mắc bệnh “ung thư phong bì”?

Có lẽ chưa ở đâu và chưa khi nào cái phong bì được “đề cao” như ở Việt Nam, thậm chí nó đã được đẩy lên thành một thứ “văn hóa” ăn sâu, bám rễ vào từng góc cạnh của cuộc sống vào suy nghĩ của người dân mà ngay ở bệnh viện, nơi đứng giữa ranh giới mong manh sự sống – chết của con người thì vai trò của “văn hóa phong bì” càng được bộc lộ một cách rõ ràng và “phát huy” vai trò của nó hơn bao giờ hết.

Đây không phải lần đầu câu chuyện về “văn hóa phong bì”, “văn hóa bôi trơn” ở bệnh viện được đề cập. Tuy nhiên đề tài này trở nên nóng hơn sau phiên chất vấn của Quốc hội với Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến. Tại phiên chất vấn, Bộ trưởng khẳng định chuyện nhận phong bì ở ngành Y tế là khó chấp nhận được. Theo Bộ trưởng, chuyện tiêu cực phong bì và “thái độ của cán bộ y tế” có nguyên nhân liên quan đến tính cách và đạo đức, cũng như do quá tải bệnh nhân, cơ sở y tế rất chật chội, lương quá thấp… Nhưng có lẽ vì chưa thể tìm ra giải pháp chống lại “nạn” “chiếc phong bì” nên Bộ trưởng chỉ biết kêu gọi đội ngũ cán bộ ngành y vì hình ảnh, danh dự của nghề nghiệp mà không nhận phong bì. “Tôi cũng mong muốn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân dứt khoát không đưa phong bì mà cùng giám sát việc nhận phong bì trong ngành Y tế. Thấy chỗ nào, bác sĩ, nhân viên y tế nào nhận phong bì thì chụp hình, ghi tên lại để gửi chúng tôi xử lý”. Sau khi nhiệt tình kêu gọi từ cả hai phía, phía “đưa” và phía “nhận”, Bộ trưởng lạc quan khẳng định, trong tương lai, hình ảnh y đức sẽ tốt lên…

Nhiều y bác sĩ hiện nay đã mắc “căn bệnh ung thư phong bì” !?.

Vấn đề Bộ trưởng y tế đưa ra thoạt đầu nghe thì tưởng là một tín hiệu đáng mừng, bởi vì người dân đã thấy ngành y tế quan tâm hơn đến vấn đề y đức của của đội ngũ y bác sĩ ở các bệnh viện nhưng nếu nghĩ kĩ hơn thì thấy đây rõ ràng không phải là điều đáng mừng khi mà vấn đề y đức đã xuống cấp đến mức báo động. Việc đưa và nhận phong bì diễn ra nhan nhản ở các bệnh viện. Không có cái phong bì bôi trơn thì “Hãy đợi đấy”. Cùng với sự phát triển của y học thế giới, lẽ ra giờ đây ngành y phải tập trung quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển khoa học công nghệ, nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ… để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người bệnh. Vậy mà giờ đây chúng ta vẫn còn phải lo chuyện y đức thì thật đáng buồn thay !

Công bằng mà nói, không phải ở bất cứ bệnh viện, trung tâm y tế hay y bác sĩ nào cũng mắc bệnh “ung thư phong bì”. Ở một góc độ nào đó, vấn nạn bôi trơn không chỉ làm xấu hình ảnh cao đẹp của ngành “thầy thuốc”, mà còn xúc phạm lòng tự trọng của một bộ phận khác, những cán bộ nhân viên chân chính của ngành y tế. Nhưng nếu biện pháp chỉ dừng lại ở mức hô hào hay kêu gọi phát động phong trào như Bộ trưởng y tế đã thể hiện thì thật khó hi vọng vào sự chuyển biến tích cực bởi từ trước đến nay ngành y tế đã không ít lần tuyên chiến với “văn hóa phong bì” trong bệnh viện theo kiểu này nhưng đến nay đâu vẫn vào đó thậm chí có nơi, có lúc có chiều hướng tăng.

Đăng đàn trước Quốc hội, Bộ trưởng Y tế phân trần, Bộ chưa bao giờ phát động “nói không với phong bì” mà là do công đoàn ngành phát động khi bộ trưởng…đi vắng. Phong trào mà Bộ trưởng nói đến ở đây là cam kết “nói không với phong bì” do Công đoàn ngành y tế phát động từ tháng 10/2011 nhưng có lẽ do chưa lường hết về thực trạng tiêu cực đã trở nên phổ biến và nhức nhối trong lĩnh vực y tế nên công đoàn bộ này đã làm một việc “không tưởng” ! Ai cũng biết chống tiêu cực không thể hô hào suông, càng không thể làm kiểu chiến dịch và phong trào được. Phải có biện pháp cụ thể với những bước đi thích hợp. Chống tiêu cực cũng như chữa bệnh. Phải đoán đúng bệnh, kê toa đúng thuốc, uống đúng liều và trị tận gốc. Y đức là biểu hiện nhân cách của người thầy thuốc. Nhưng khi mà thầy thuốc đã “mang bệnh” thì cũng giống như bao người bình thường khác. Bởi vậy ngay cả khi công đoàn Bộ phát động phong trào và 5 bệnh viện lớn hàng đầu triển khai cam kết “nói không với phong bì” thì việc vòi vĩnh, làm tiền, đưa và nhận phong bì vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức mà ngay trong 5 bệnh viện lớn này cũng không phải là ngoại lệ mà biểu hiện cụ thể là đã có một vài cán bộ y bác sĩ bị cho nghỉ với lí do như trên. Ngay khi công đoàn Bộ phát động cam kết “Nói không với phong bì” thì một khảo sát về vấn nạn phong bì với 6000 độc giả cho thấy 7% bày tỏ đưa phong bì để cảm ơn bác sĩ đã cứu chữa còn tới 73% đưa phong bì vì sợ không được bác sĩ chăm sóc tốt. Đặc biệt có 15% đưa phong bì là do nhân viên y tế gợi ý. Còn một khảo sát khác do Công đoàn Y tế Việt Nam phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Y tế) thực hiện vào tháng 7/2011 tại 5 bệnh viện gồm bệnh viện Việt Đức, Phụ sản Trung ương, K, Bạch Mai và Bệnh viện E cho kết quả: khoảng 45% bệnh nhân, người nhà không hài lòng với nhân viên y tế, thủ tục hành chính.

Không ai muốn vào bệnh viện nếu không may mắc phải bệnh tật hay có vấn đề gì đó về sức khỏe, nhưng thật khó để làm theo lời Bộ trưởng, người ta không thể cứ đến bệnh viện là mang máy ảnh theo, không thể vừa đưa phong bì vừa rình chụp ảnh khi mà tính mạng người thân đang ngàn cân treo sợi tóc trên bàn mổ. Nói bệnh nhân là một trong những nguyên nhân làm suy thoái y đức của một bộ phận cán bộ y tế cũng không sai bởi quan niệm “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” đang bị dung tục hóa một cách quá mức. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không thể không xót xa khi mà cuộc chiến “nói không với phong bì” vẫn chưa biết hồi kết, cuộc chiến diễn ra ngay trong lĩnh vực cứu người và cái “ ác” lại đang tồn tại trong môi trường cần lòng nhân đạo nhất. Phong bì có thể làm thay đổi thái độ, lời ăn tiếng nói của cán bộ y tế nhưng không làm tốt hơn chất lượng điều trị. Thậm chí phong bì còn làm giảm sút niềm tin của người dân đối với nhân viên y tế và các bệnh viện mà trường hợp tử vong của một trẻ sơ sinh ở Bệnh viện Bưu điện Hà Nội cách đây chưa lâu do sự tắc trách của bác sĩ và những nữ hộ sinh là một ví dụ cụ thể mặc dù trước đó vị bác sĩ này cũng đã được “bôi trơn”….một triệu đồng.
Khi phong bì đã trở thành vấn nạn thì rõ ràng đấy là điều thật đáng buồn và đáng lo về mặt đạo đức xã hội. Sâu xa mà nói thì phải thấy nguyên nhân của tệ nạn này bắt nguồn từ năng lực quản lý xã hội vận hành theo cơ chế thị trường, trong đó có chính sách lương, chính sách thuế chưa phù hợp, tạo ra sự mất bình đẳng xã hội. Nếu không giải quyết được vấn đề này thì phong bì vẫn sẽ tồn tại dưới nhiều hình thức, kể cả khi nhân viên y tế không đòi hỏi.

Về sự xuống cấp về y đức và văn hóa phong bì trong bệnh viện, Bộ trưởng y tế nói không sai, nhưng kêu gọi, hô hào thì chưa khi nào được coi là giải pháp.

Và muôn nẻo đường y đức

Sự tắc trách nghề nghiệp hay văn hóa phong bì trong bệnh viện là hai vấn đề nổi cộm liên quan trực tiếp đến tính mạng người bệnh nhưng xét cho cùng đó cũng chỉ là là hai trong số rất nhiều “căn bệnh” liên quan đến y đức mà ngành này mắc phải.

Có thực sự trong vai trò của một bệnh nhân đến khám chữa và điều trị tại các bệnh viên mới thấy hết được những nhức nhối về y đức ở những nơi này. Không phải là số đông nhưng có những y bác sĩ lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người bệnh để thực hiện những biện pháp, xét nghiệm, điều trị không cần thiết hoặc “đẩy” họ ra các phòng khám tư, chưa hết họ còn móc ngoặc với những nhân viên bán thuốc trong bệnh viện, cò bệnh viện, phòng khám tư và các cửa hàng thuốc bên ngoài để “móc túi” người bệnh bằng đủ chiêu trò. Trong nhiều trường hợp giá thuốc khi tới tay bệnh nhân đã phải đi lòng vòng qua nhiều khâu trung gian; công ty dược bắt tay với thầy thuốc để kê đơn biệt dược hưởng chênh lệch; kết quả đấu thầu tại cơ sở khám chữa bệnh cao hơn giá niêm yết bên ngoài…dẫn đến thực trạng chênh lệch cao về giá thuốc giữa các cơ sở khám chữa bệnh mặc dù cùng nằm trên một địa bàn mà người bệnh vẫn phải cắn răng móc túi trả tiền.

Việc khám chữa bệnh cho đối tượng có Bảo hiểm y tế (BHYT) thời gian qua cũng là một vấn đề gây bức xúc cho dư luận, rất nhiều người được hỏi thừa nhận có bảo hiểm y tế song vẫn quyết định khám theo kiểu dịch vụ “tự nguyện” . Vậy nguyên nhân do đâu? Không quá khó để chỉ ra nguyên nhân khi hầu hết các BV công hiện nay đều có hai cơ chế song song là khám, chữa bệnh theo yêu cầu và theo BHYT. Ở một số nơi, khi vào nằm viện điều trị thì người bệnh mới thấy rõ sự trọng, khinh khác nhau. Nhiều cơ sở khám, chữa bệnh khác thì có sự phân biệt đối xử giữa người khám bằng thẻ BHYT với người khám dịch vụ. Nếu người khám dịch vụ được tiếp đón, chăm sóc ân cần thì người dùng thẻ BHYT có thể bị bác sĩ, y tá… quát nạt bất cứ lúc nào. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ngay từ khâu đón tiếp bệnh nhân BHYT tại một số bệnh viện lớn ở Hà Nội. Sự thống nhất giữa BHYT và ngành y về vấn đề “trách nhiệm” công việc, thủ tục hành chính liên quan đến BHYT diễn ra hằng ngày tại các bệnh viện, cơ sở điều trị – những nơi có khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT chưa được giải quyết thấu đáo nên những người đi khám chữa bằng BHYT vẫn còn chịu không ít thiệt thòi.

Một vấn đề khác được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến y đức hiện nay xuống cấp là việc giáo dục y đức ngay tại các nhà trường chưa được coi trọng. Cần phải xác định rõ ràng, y đức không phải là môn học ép buộc mà là môn học về đạo đức nghề nghiệp gắn liền với phát triển khoa học kỹ thuật; học y đức không phải học những điều cấm kỵ mà là những đồng thuận về giá trị đạo đức. Y đức là đạo đức của tất cả những người làm công tác y tế và y học. Đạo đức là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội. Đạo đức bắt nguồn từ những yêu cầu của sự tồn tại và phát triển xã hội, từ một khách quan của đời sống xã hội là điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội để kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể. Thực tế thì hiện nay việc dạy bộ môn này về cơ bản tại các trường vẫn trong quá trình vừa dạy vừa rút kinh nghiệm. Nội dung giảng dạy về y đức tại các trường y hiện nay còn thiếu về phần trách nhiệm và tự chịu trách nhiệm của người thầy thuốc; còn khoảng cách xa giữa lý thuyết với thực hành. Phần lớn giáo viên dạy Bộ môn Y đức tại các trường hiện nay đều kiêm nhiệm, như vậy khó để triển khai chuyên sâu chương trình này. Thời lượng chương trình còn hạn hẹp, thời gian thực hành hạn chế… nhất là vấn đề đào tạo, bồi dưỡng y đức sau khi ra trường không được chú trọng.

Y đức là cái gốc của văn hóa bệnh viện, vấn đề y đức liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của ngành y tế. Sự xuống cấp về y đức cũng giống như một căn bệnh của ngành y tế, muốn chữa được nó thì cần phải chữa từ tận gốc rễ, từ căn nguyên của căn bệnh và phải bằng biện pháp cụ thể. Nếu chỉ hô hào, phát động theo kiểu “chữa trị từ ngọn” như vị đứng đầu ngành này hiện nay thì e rằng vấn nạn về sự xuống cấp của y đức khó có thể giải quyết được.

Phạm Huế