Cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của xã hội hóa hoạt động phòng cháy và chữa cháy tại Việt Nam

(Pháp lý) – Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế ngày càng phát triển, các khu đô thị, khu công nghiệp ngày càng nhiều dẫn đến nguy cơ cháy, nổ ngày càng gia tăng. Công tác phòng cháy, chữa cháy là vấn đề lớn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, tự giác của mọi tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy, xã hội hóa công tác phòng cháy và chữa cháy (PCCC) và phát triển dịch vụ công trong lĩnh vực này là một yêu cầu cấp thiết, nhằm góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu số vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự bình yên của nhân dân. Để tìm hiểu rõ hơn về xã hội hóa công tác PCCC, tác giả bài viết đã đi sâu nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý của xã hội hóa công tác PCCC tại Việt Nam hiện nay.

Cơ sở thực tiễn

Cùng với quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế – xã hội và trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, càng ngày chúng ta càng nhận thức đầy đủ hơn sự cần thiết phải từng bước xã hội hóa công tác PCCC. Sự cần thiết đó bắt nguồn từ chính yêu cầu của công tác PCCC trong sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay.

Nghiên cứu các quy luật của việc hình thành và phát triển đám cháy trong điều kiện kinh tế, xã hội và khí hậu nước ta cho thấy, để phòng ngừa cháy tốt, kịp thời dập tắt đám cháy ngay từ khi nó mới xuất hiện thì điều kiện tiên quyết là công tác PCCC phải được thực hiện từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cơ sở. Do đó, hoạt động PCCC, từ trong bản chất của nó luôn mang tính xã hội rộng lớn.

Khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư trong lĩnh vực PCCC đang được xem là biện pháp khắc phục nhiều hạn chế trong công tác PCCC hiện nay (ảnh minh họa)
Khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư trong lĩnh vực PCCC đang được xem là biện pháp khắc phục nhiều hạn chế trong công tác PCCC hiện nay (ảnh minh họa)

Yếu tố thứ hai của sự cần thiết phải tiến hành xã hội hóa công tác PCCC xuất phát từ tính chất và đặc điểm của hoạt động PCCC. Hoạt động PCCC, xét về thực chất là hoạt động mang tính khoa học, kỹ thuật. Cơ sở khoa học của phòng cháy cũng như hoạt động chữa cháy là phải dựa trên việc nghiên cứu các nguyên nhân, điều kiện, cơ chế hình thành sự cháy, của sự phát triển và dập tắt đám cháy. Như vậy, khoa học về PCCC bản thân nó có đối tượng, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu xác định, nhưng để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đó, cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành khoa học thuộc các lĩnh vực khác có liên quan, chẳng hạn như trong lĩnh vực điện năng, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế tạo máy v.v… Điều này có nghĩa sự cần thiết phải phối hợp, liên kết với các cơ quan, các nhà khoa học trong các lĩnh vực khác để hợp tác nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ vào trong công tác PCCC.

Mặt khác của tính chất khoa học, kỹ thuật của công tác PCCC đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện ngày càng hiện đại vào việc phòng ngừa cháy cũng như trong hoạt động chữa cháy. Tuy nhiên, việc trang bị các phương tiện như vậy cần một nguồn kinh phí không nhỏ. Trước đây nguồn kinh phí này chủ yếu từ phía Nhà nước, do Nhà nước bảo đảm. Đến nay, do nhu cầu hiện đại hóa, số lượng các phương tiện phục vụ cho công tác PCCC của lực lượng PCCC chuyên nghiệp là rất lớn. Theo tính toán của Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, chỉ tính nhu cầu đầu tư mua sắm phương tiện bổ sung cho phương tiện chữa cháy bị hư hỏng cần thay thế đến năm 2020 đã là khoảng 30.000 tỷ đồng. Như vậy trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn như ở nước ta, muốn tạo nguồn tài chính cho PCCC cần phải được thực hiện thông qua việc huy động mọi nguồn lực của xã hội.

Xét trên góc độ quản lý, lực lượng cảnh sát PCCC là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về PCCC trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố (713 đơn vị hành chính cấp huyện, 11.161 xã, phường). Lực lượng cảnh sát PCCC đã có nhiều cố gắng từng bước đổi mới công tác quản lý, tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng; vừa thực hiện tốt chức năng tham mưu vừa trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý và thường trực sẵn sàng chữa cháy, góp phần quan trọng đưa Luật PCCC vào thực tiễn cuộc sống.

Tuy nhiên, tổ chức và biên chế của cảnh sát PCCC còn nhiều bất cập, chưa ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ quản lý; tính chất các đối tượng quản lý lại đa dạng và phức tạp, sự đan xen giữa khu dân cư với các cơ sở sản xuất kinh doanh, điều kiện về giao thông, nguồn nước chữa cháy, thông tin liên lạc đều không bảo đảm các yêu cầu về PCCC; toàn lực lượng mới chỉ có hơn 400 đội cảnh sát PCCC (dự kiến trước mắt cần thành lập tối thiểu 713 đội chữa cháy, tương ứng với đơn vị hành chính cấp huyện).

Sự thiếu hụt về lực lượng là cản trở cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, nhưng cho dù trong tương lai, biên chế của cảnh sát PCCC có tăng lên, các đội PCCC có thể được thành lập đến cấp huyện, các nơi tập trung dân cư, nhưng rõ ràng với quốc gia trên 90 triệu dân đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì công tác PCCC vẫn phải do cơ sở và phải được bắt đầu từ cơ sở.

Hiện nay các hoạt động nghiệp vụ như: kiểm tra an toàn PCCC, thẩm duyệt về PCCC, kiểm định phương tiện PCCC, tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ PCCC… đều chỉ do lực lượng cảnh sát PCCC thực hiện. Trong khi đó pháp luật về PCCC đã cho phép hình thành và cấp phép các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, dịch vụ PCCC: Tư vấn thiết kế, tư vấn thẩm định, tư vấn giám sát; tư vấn kiểm tra, kiểm định kỹ thuật; thi công, lắp đặt hệ thống PCCC; tư vấn chuyển giao công nghệ PCCC; sản xuất, lắp ráp phương tiện, thiết bị PCCC; huấn luyện, hướng dẫn về nghiệp vụ PCCC; kinh doanh phương tiện PCCC. Đây là các loại hình doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện về PCCC, giúp Nhà nước cung ứng các dịch vụ về kỹ thuật, phương tiện, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động PCCC. Do vậy, đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách để các đơn vị kinh doanh dịch vụ PCCC có điều kiện phát huy, hỗ trợ các hoạt động PCCC và giảm tải các hoạt động dịch vụ công của lực lượng cảnh sát PCCC.

Thực tiễn công tác PCCC gần 60 năm qua đã chứng minh ở những cơ sở nào, địa phương nào lãnh đạo và những thành viên trong các cơ sở đó quan tâm, thực hiện tốt công tác PCCC, coi PCCC như là hoạt động tất yếu trong hoạt động của cơ sở, thì ở đó không xảy ra cháy hoặc nếu có cháy thì cũng dập tắt kịp thời. Với nhận thức mới về tầm quan trọng của xã hội hóa công tác PCCC, Luật PCCC trên cơ sở tổng kết thực tiễn PCCC đã coi xã hội hóa công tác PCCC như là giải pháp mang tính chiến lược.

Cơ sở pháp lý

Xuất phát từ yêu cầu khách quan và tầm quan trọng của việc xã hội hóa công tác PCCC và cứu nạn, cứu hộ nên Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, quy định, hướng dẫn nhằm huy động sức mạnh của toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ PCCC và cứu nạn, cứu hộ như: Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCCC; Luật PCCC năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC năm 2013; Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 31/7/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC.

– Xã hội hóa hoạt động PCCC được thể hiện tại Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCCC.

+ Sự nghiệp PCCC muốn đạt được kết quả phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, trong đó mọi hoạt động PCCC phải được tiến hành từ cơ sở, thôn, ấp, bản, tổ dân phố, từ hộ gia đình. Quan điểm này đã được thể hiện trong nguyên tắc PCCC được quy định tại Điều 4 của Luật PCCC: phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia hoạt động PCCC và mọi hoạt động PCCC trước hết phải được thực hiện và giải quyết bằng lực lượng và phương tiện tại chỗ.

+ Để hoạt động PCCC có hiệu quả thì trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình là rất quan trọng, đó là những người chịu trách nhiệm tổ chức và thường xuyên kiểm tra PCCC nhằm bảo đảm các điều kiện an toàn về PCCC (khoản 3 Điều 5 Luật PCCC). Theo đó, hàng loạt các quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của người đứng đầu được quy định trong Luật PCCC, Nghị định số 79/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 66/2014/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác về PCCC.

+ Xã hội hóa trong công tác tuyên truyền về PCCC, Điều 6 Luật PCCC chỉ rõ các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và kiến thức về PCCC thường xuyên, rộng rãi đến toàn dân. Cơ quan, tổ chức và hộ gia đình có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và kiến thức về PCCC cho mọi người trong phạm vi quản lý của mình.

image001+ Công tác PCCC luôn được tiến hành trong sự tác động giữa các yếu tố: xây dựng lực lượng (dân phòng, đội PCCC cơ sở, đội PCCC chuyên ngành); trang bị phương tiện và kinh phí, về nguyên tắc phải do cơ sở, địa phương tự chịu trách nhiệm. Đây được coi như cốt vật chất của xã hội hóa, Luật PCCC đã đặt cơ sở pháp lý đồng thời cũng yêu cầu các cơ sở phải biết tự mình bảo đảm các yêu cầu về PCCC cho đơn vị mình.

+ Luật PCCC quy định về trang bị phương tiện PCCC (Điều 50 Luật PCCC): Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tự trang bị phương tiện PCCC cho cơ sở, các loại rừng, phương tiện giao thông cơ giới thuộc phạm vi quản lý của mình. Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trang bị phương tiện PCCC cho đội dân phòng. Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và chủ rừng, chủ phương tiện giao thông cơ giới ngoài quốc doanh phải tự trang bị phương tiện PCCC. Hộ gia đình phải chuẩn bị các điều kiện, phương tiện để PCCC.

+ Điều 54, 55, 56 Luật PCCC quy định nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động PCCC, gồm: Ngân sách nhà nước cấp; thu từ bảo hiểm cháy, nổ; đóng góp tự nguyện, tài trợ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

Nhà nước bảo đảm ngân sách cần thiết hàng năm để đầu tư cho hoạt động PCCC.

Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài và tổ chức quốc tế đầu tư, tài trợ cho hoạt động PCCC. Nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế đối với việc sản xuất, lắp ráp, xuất khẩu phương tiện PCCC.

– Xã hội hóa hoạt động PCCC thể hiện tại Chỉ thị số 47/CT-TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCCC.

+ Công tác PCCC và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ PCCC và cứu nạn, cứu hộ; coi công tác PCCC là công việc hằng ngày ở mọi nơi, mọi lúc.

+ Đẩy mạnh xã hội hóa công tác PCCC. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật về PCCC (giao thông, nguồn nước, thông tin liên lạc…); nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; mua sắm phương tiện PCCC và cứu nạn, cứu hộ.

Kết mở

Từ sự phân tích trên cho thấy, xã hội hóa công tác PCCC là sự đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Xã hội hóa công tác PCCC là quá trình chuyển hóa, tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới từ mô hình quản lý tập trung của nhà nước sang mô hình quản lý rộng rãi của xã hội nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội cho PCCC. Vấn đề là cần có sự phân định rõ, việc nào là của Nhà nước, việc nào của tổ chức, cá nhân khác và việc nào Nhà nước và tổ chức, cá nhân khác cùng làm để phát huy vai trò của toàn xã hội trong công tác PCCC./.

Kinh nghiệm thực tế ở các nước phát triển cho thấy, ngoài nguồn tài chính đầu tư của nhà nước, họ còn huy động các nguồn kinh phí khác cho PCCC, ví dụ như ở Ôxtrâylia 86% kinh phí cho hoạt động của lực lượng PCCC lấy từ bảo hiểm cháy; tại CH Liên bang Nga mới đây đã ban hành đạo luật về bảo hiểm bắt buộc đối với tài sản của các pháp nhân, theo đó trích 10% nguồn thu bảo hiểm tài sản để phòng cháy. Ở nước ta, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (được thay thế bằng Nghị định số 23/2008/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ), theo đó trích số phần trăm nguồn thu từ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc cho hoạt động PCCC.


Hiện nay các hoạt động nghiệp vụ như: kiểm tra an toàn PCCC, thẩm duyệt về PCCC, kiểm định phương tiện PCCC, tuyên truyền, huấn luyện nghiệp vụ PCCC… đều chỉ do lực lượng cảnh sát PCCC thực hiện. Trong khi đó pháp luật về PCCC đã cho phép hình thành và cấp phép các loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, dịch vụ PCCC.

Trung tá, TS Nguyễn Văn Bình, Trưởng phòng 7/C07

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *