Chuyên gia pháp lý Trần Văn Hà – Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á: Cuộc khủng hoảng Hy Lạp là hồi chuông cảnh báo cho vấn đề nợ công

(Pháp lý) – Thời gian qua, vấn đề vỡ nợ của Hy Lạp không chỉ tác động trực tiếp tới nền kinh tế của nước này, của khối các nước sử dụng đồng tiền chung Euro mà còn tác động trực tiếp tới nhiều quốc gia có quan hệ thương mại với Hy Lạp, trong đó có Việt Nam. Từ cuộc khủng hoảng này, một vấn đề lớn được đặt ra đối với Việt Nam đó là cần phải rút ra bài học gì trong quản trị quốc gia, vấn đề kiểm soát nợ công, phòng chống tham nhũng… Đây thực sự là những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với Luật sư, Thạc sỹ Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á.

Những nguyên nhân quan trọng khiến Hy Lạp vỡ nợ

Phóng viên: Thời gian qua, câu chuyện Hy Lạp bị vỡ nợ đã thu hút sự chú ý lớn của dư luận thế giới. Cá nhân ông nhìn nhận ra sao về vấn đề này?

Luật sư, Thạc sỹ Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á
Luật sư, Thạc sỹ Trần Văn Hà, Công ty Luật hợp danh Đông Nam Á

Thạc sỹ Trần Văn Hà: Tôi nghĩ rằng, đó là một trong những vấn đề lớn không chỉ của Châu Âu (khu vực EU) mà đó còn là vấn đề đối với cả thế giới. Nó cho chúng ta thấy cần phải rút ra nhiều bài học trong quản trị (nội bộ) quốc gia cũng như là hợp tác giữa các quốc gia. Đặc biệt là đặt trong bối cảnh kinh tế thế giới suy trầm gần 8 năm qua, nhiều nước có nền kinh tế mạnh ở Châu Âu, rồi cả Nhật Bản vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và đặc biệt là mới đây có sự “bùng nổ” rồi “sụp đổ”, với 3000 tỉ USD trên thị trường chứng khoán Trung Quốc “bốc hơi”, gây chấn động đến nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới, mà biến cố của Trung Quốc này cũng không kém phần kịch tính.

Tôi phải xin nói ngay rằng trong bối cảnh hội nhập, một nền kinh tế gặp vấn đề, khủng hoảng hoặc sụp đổ sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của thế giới và điều đó tất nhiên chẳng có gì tốt cả. Nhưng nó giúp cho chúng ta rút ra bài học để tránh vấp phải những vấn đề đó, hoặc nếu vấp phải thì biết cách xử lý nó nhanh và ít tổn thất hơn. Và tôi cũng tán đồng với ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới đã chỉ ra, sự sụp đổ của Hy Lạp chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng có lẽ, theo tôi, Hy Lạp sẽ không rời khỏi Liên minh Châu Âu.

Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao nhất trong EU. Không chỉ có công nhân viên chức không chịu nộp thuế, mà việc nhận tiền hối lộ còn khá phổ biến từ trung ương đến địa phương. Phải chăng, đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới vỡ nợ của Hy Lạp, thưa ông? Ngoài tham nhũng, theo ông, còn nguyên nhân nào dẫn tới sự vỡ nợ của nền kinh tế này?

Vâng. Tôi nghĩ rằng câu hỏi này thực sự rất khó trả lời chính xác. Đúng là Hy Lạp có chỉ số tham nhũng vào loại cao và tham nhũng có ảnh hưởng đến sự khủng hoảng ở Hy Lạp hiện nay, nhưng đó chỉ là một trong các yếu tố thôi. Để hiểu thêm về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ của nước này, có lẽ nên tìm hiểu thêm một chút về lịch sử của họ. Hy Lạp là một trong những nước ở khu vực phía Nam Châu Âu, quốc gia này là một trong những nước có nền văn hóa, văn minh phát triển sớm, rực rỡ và vĩ đại từ hơn 4.000 năm trước và cho tới nay chúng ta vẫn đang thừa hưởng một số thành quả từ những thành tựu đó. Sau Chiến tranh thế giới hai và tới những năm 1980 thì nền kinh tế Hy Lạp, cùng với Nhật Bản, chứng kiến một sự “thần kỳ”, kinh tế phát triển vượt bậc và có nhiều cải cách xã hội quan trọng. Cho tới nay, dân số Hy Lạp vào khoảng 11 triệu người, với GDP khoảng 242 tỉ USD, mức thu nhập bình quân khoảng 21.000USD.

Một nguyên nhân sâu xa cho sự khủng hoảng của Hy Lạp bắt nguồn từ khi nước này được gia nhập EU (năm 2000). Chúng ta biết rằng EU là tập hợp của những quốc gia phát triển cao ở khu vực phía Tây của Châu Âu, với nhiều quốc gia vào loại phát triển nhất trên thế giới và tổ chức này cũng có những điều kiện khắt khe cho các thành viên gia nhập, có các điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội. Dù lúc đó Hy Lạp chưa đủ điều kiện, đặc biệt là các điều kiện về kinh tế, nhưng nước này đã cố uốn nắn các sổ sách của mình cho phù hợp với các điều kiện của EU để được tham gia vào sân chơi đó (vì lúc này là cao trào của việc liên kết, hợp tác giữa các quốc gia, khu vực). Nhưng vì sức yếu sau nhiều năm quản trị quốc gia không hiệu quả, nền kinh tế lại mất hết động lực cho sự phát triển.

Một vấn đề bất cập là an sinh xã hội của Hy Lạp vào loại cao không tưởng, mà ngay cả những nước mà dân nổi tiếng cần mẫn, chăm chỉ như Đức, Mỹ, Nhật… cũng không dám cho dân của mình hưởng như thế. Ở Hy Lạp, mức tuổi trung bình nghỉ hưu thấp nhất Châu Âu, nhiều nghề còn được về hưu trước tuổi 50 và mỗi người đi làm 3 năm đầu là có thể xác định được mức lương hưu của mình ở độ tuổi 50 với mức khoảng 80-90% mức lương đi làm đó. Do vậy, không ai muốn sản xuất và không nhà đầu tư ngoại quốc nào dám vào đó đầu tư sản xuất, cung ứng dịch vụ cả.

Doanh nghiệp trong nước thì phải tìm đường sang các nước lân cận để kinh doanh. Từ đó dẫn đến việc thất thu thuế, mà đây lại là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia, rồi không tạo được công ăn việc làm với tỉ lệ thất nghiệp vào loại cao nhất Châu Âu.

Do tham nhũng, gian lận, chính sách bất cập, đầu tư không hiệu quả nên quốc gia này nợ cứ nợ chồng nợ và hiện nay số nợ đã lên đến 350 tỉ USD và không còn khả năng trả nợ. Cũng xin lưu ý rằng số nợ này tích tụ từ rất lâu, chứ không phải trong một hay vài năm, tôi cũng rất hi vọng người dân Hy Lạp rút tỉa các bài học đó và nhanh chóng vực mình dậy.

Tác động gián tiếp tới nền kinh tế Việt Nam

Mặc dù, quan hệ thương mại trực tiếp giữa Việt Nam và Hy Lạp còn ở mức thấp, song một số chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên thận trọng. Ông nghĩ sao về điều này? Liệu Hy Lạp vỡ nợ có ảnh hưởng gì tới nền kinh tế của Việt Nam, thưa ông?

Thực tế cho thấy quan hệ kinh tế – thương mại giữa Việt Nam và Hy Lạp rất ít, gần như là không có. Nhưng điều đó không đồng nghĩa là các ảnh hưởng từ vụ khủng hoảng này không tác động đến Việt Nam. Như tôi đã nói ở phần trên, nó sẽ có tác động đến nước ta không ít thì nhiều, không trực tiếp thì gián tiếp. Điển hình là thị trường chứng khoán của Mỹ, Nhật, Hàn cũng đã sụt điểm do tác động của vụ khủng hoảng đó. Theo tôi, vụ khủng hoảng của Hy Lạp chủ yếu ảnh hưởng gián tiếp tới chúng ta. Như chúng ta đều biết, Châu Âu (EU) là một thị trường lớn và đầy tiềm năng của Việt Nam, các nước trong EU đầu tư kinh doanh rất nhiều ở Việt Nam. Nếu kinh tế của Hy Lạp khủng hoảng, những doanh nghiệp này cũng sẽ chịu tác động và việc đầu tư kinh doanh của họ tại Việt Nam cũng ảnh hưởng.

Hy Lạp đang nợ tổng cộng 323 tỷ USD, trong đó có 246 tỷ USD cứu trợ từ quốc tế. (Đồ họa: CNN)
Hy Lạp đang nợ tổng cộng 323 tỷ USD, trong đó có 246 tỷ USD cứu trợ từ quốc tế. (Đồ họa: CNN)

Hơn nữa, việc Hy Lạp vay nợ các tổ chức tín dụng, ngân hàng quốc tế và khu vực quá nhiều (cụ thể là vay của IMF và Ngân hàng trung ương Châu Âu, các nước Châu Âu khác…). Một khi Hy Lạp không trả được các khoản nợ này, các định chế tài chính trên cũng sẽ siết chặt hơn đối với việc cho vay, vì đơn giản, họ đều biết tính toán thiệt hơn cả. Tiền lệ xấu đó sẽ khiến cho các nước, các tổ chức cho vay cảnh giác hơn và Việt Nam sẽ phải đi vay tiền không còn dễ dàng như trước nữa, mà chúng ta biết rằng nước ta cần phải đi vay để có vốn phát triển kinh tế. Theo tôi, một vấn đề nữa cũng cần nên thận trọng đó là việc mở rộng hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á. Rõ ràng xu thế hợp tác về gần như tất cả các mặt, đặc biệt là về kinh tế – thương mại giữa các nước là tất yếu. Nhưng điều đó cũng đồng thời phải gắn với trách nhiệm và với các điều kiện khắt khe, để làm sao các quốc gia cùng đóng góp, cùng hưởng lợi trong một sân chơi chung.

Hồi chuông cảnh báo cho vấn đề nợ công

Cuộc khủng hoảng Hy Lạp là hồi chuông cảnh báo cho vấn đề nợ công, vốn đang là mối đe dọa sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo ông, nợ công của Việt Nam đang ở mức như thế nào và liệu có tác động tiêu cực tới nền kinh tế không?

Thành thực mà nói, tôi cảm thấy rất lo lắng về nợ công của Việt Nam hiện nay, cũng xin nói rõ thêm là nợ công bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nhiều quốc gia tiên tiến với trình độ quản lý ngân sách quốc gia rất tốt mà họ vẫn ngập trong nợ công, điển hình như Hoa Kỳ hay Pháp. Thực sự thì mức nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn chưa có thông tin rõ ràng và đầy đủ. Các số liệu “đáng tin” hiện nay do một số tổ chức tài chính có uy tín của nước ngoài thống kê, ước lượng và dự báo. Theo đó thì số nợ công của Việt Nam rất đáng lo ngại. Vấn đề quan trọng là tiền để trả nợ. Nếu thế hệ hiện nay không trả được nợ, thì chắc chắn các thế hệ tới sẽ phải trả khoản nợ đó, vì quốc gia vay nợ thì đa phần là những khoản nợ dài hạn, thường là 10 đến 20 năm, thậm chí còn dài hơn.

Nếu nợ công tăng quá cao và đã tới hạn phải trả nợ thì nhà nước phải vay từ nguồn khác (có thể từ dân hoặc từ các tổ chức tài chính khác) với lãi suất cao để trả nợ. Trong trường hợp mà vẫn không vay được, thì vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội,… chắc chắn sẽ phải cắt giảm giống như một số nước như Ý, Tây Ban Nha, Ireland hiện đang thực hiện, gọi là chính sách “thắt lưng buộc bụng” và đương nhiên lúc đó thì không thể nào mơ tưởng đến kinh tế tăng trưởng cao, thậm chí là tăng trưởng âm.

Theo ông, Việt Nam cần đề ra những biện pháp cụ thể nào để kiểm soát nợ công đang gia tăng nhanh như hiện nay?

Ông bà ta vẫn nói “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Ai cũng biết nền kinh tế nước ta đang phát triển, rất cần vốn và GDP hàng năm rất khiêm tốn. Tính trung bình, mỗi năm có thể chúng ta phải dành ra 10% GDP để chi trả nợ gốc và các khoản lãi. Vẫn biết là với ngân sách vô cùng hạn hẹp nhưng nếu quản lý không tốt, có thể dẫn đến mất khả năng trả nợ giống như Hy Lạp hiện nay. Mà nếu không trả nợ được thì chẳng ai còn cho chúng ta vay tiền nữa, đó là quy luật tất yếu.

 Việt Nam cần phải có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát nợ công đang tăng nhanh (ảnh: internet)

Việt Nam cần phải có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát nợ công đang tăng nhanh (ảnh: internet)

Về giải pháp cho việc hạn chế, kiểm soát được nợ công, chắc hẳn đã có rất nhiều chuyên gia kinh tế trong các cơ quan chuyên trách của Nhà nước đề xuất. Và theo tôi, biện pháp quan trọng nhất và khả thi nhất là phải kiểm soát được chi tiêu công, kiểm soát được vấn đề tiêu cực trong chi tiêu của chính phủ. Hàng ngày, chính phủ chi tiêu một lượng tiền khổng lồ vào việc xây dựng các công trình, chi cho bộ máy hành chính và cho các hoạt động an sinh xã hội. Riêng về các hoạt động an sinh – xã hội, lâu nay tôi thấy chưa có tăng lương hoặc các phúc lợi xã hội khác tăng rất ít và có lẽ cũng phải chấp nhận điều đó trong bối cảnh này. Nhưng còn vấn đề lớn hơn, đó chính là việc chi tiêu cho các công trình công cộng tôi nhận thấy còn dàn trải và kém hiệu quả.

Một vấn đề khác khiến không ít chuyên gia quan ngại là sự không đồng nhất trong các báo cáo công bố về nợ công quốc gia. Vì sao lại có sự chênh lệch này, thưa ông? Những con số chênh lệnh của các báo cáo nợ công quốc gia có tác động như thế nào tới sự ổn định của nền kinh tế, thưa ông? 

Theo tôi, sự “vênh” giữa các báo cáo công nợ của các cơ quan và với các tổ chức tín dụng quốc tế có nguyên nhân là từ cách tính chưa thống nhất. Các nước phát triển như Mỹ, khi mà công nợ của quốc gia là vấn đề chung, tất cả mọi người đều cùng quan tâm, họ có “đồng hồ công nợ”, từng phút cập nhật số công nợ của chính phủ. Dựa vào đó mà họ căn chỉnh chi tiêu của mình cho phù hợp (ví dụ như cắt giảm ngân sách quốc phòng, cắt giảm các hoạt động hành chính hay hỗ trợ các nước khác…).

Các số liệu trong nước cho biết nợ công vào khoảng 46,3%, có số liệu nói rằng vào khoảng 60% GDP và ở mức “an toàn”, có dự báo cho rằng vào cuối năm 2015, nợ công của nước ta lên khoảng 64%. Cũng trong thời gian qua, có nhiều số liệu từ các chuyên gia quốc tế cho rằng nợ công của Việt Nam đã vượt ngưỡng 100% GDP. Đối với Việt Nam, từ khoảng 5 năm qua, với hàng loạt sự đổ vỡ của các đại doanh nghiệp có vốn nhà nước với số tiền lên đến nhiều tỉ đô la Mỹ, cộng với việc đầu tư dàn trải vào những công trình không hiệu quả, tình trạng tham nhũng ở mức cao, thì theo tôi nghĩ với tiêu chuẩn quốc tế thì số nợ công theo các chuyên gia quốc tế là hợp lý.

Những con số “nhảy múa” trên cho thấy việc quản lý, thống kê công nợ của chúng ta chưa thật chặt chẽ, và nó ảnh hưởng đến chính hiệu quả quản lý tài chính của quốc gia. Số nợ không rõ ràng và cụ thể rất khó để các cơ quan nhà nước có chính sách trong việc giảm số công nợ đó. Một điều chắc chắn là có nợ thì phải trả, nợ càng nhiều vay càng khó. Nếu chúng ta biết con số nợ công trung thực thì có lẽ chúng ta sẽ phải lựa chọn phương án sử dụng đồng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn, chúng ta cũng sẽ không mong muốn xây dựng những đại công trình với những số vốn khổng lồ mà chưa biết nó hiệu quả đến mức nào và chưa biết đến đời cháu chúng ta có thu hồi được vốn hay không. Giải pháp ở đây có lẽ là cần phải có sự minh bạch hơn nữa về số liệu nợ công từ các cơ quan quản lý nhà nước.

Việt Nam cần rút ra bài học gì từ sự vỡ nợ của Hy Lạp?

Như tôi đã nói ở phần đầu, việc Hy Lạp phải đương đầu với khó khăn, thách thức do chính họ tạo ra là một bài học quý giá cho Việt Nam, vì xét ở khía cạnh nào đó, các nền kinh tế đều vận hành trên những quy luật tương đồng và có nhiều điểm giống nhau. Nếu không quản lý nợ tốt, thì chính chúng ta phải lĩnh hậu quả đó trước tiên chứ không ai khác. Trước Hy Lạp thì Agentina, Venezuela cũng phải gánh chịu hậu quả đó và chúng ta tới nay vẫn chưa biết đến thời điểm nào mới có thể khắc phục được hậu quả đó, nhưng có lẽ chính phủ Hy Lạp chưa rút tỉa kinh nghiệm từ những cuộc khủng hoảng đó nên dẫn nước mình tiếp tục lún vào khủng hoảng, dù được cả Liên minh Châu Âu từ nhiều năm qua ra sức giúp đỡ bằng mọi biện pháp có thể. Nếu kịch bản đó mà xảy ra với Việt Nam thì tôi nghĩ chúng ta không may mắn được như thế.

Có lẽ vấn đề đầu tiên mà chúng ta nên học từ Hy Lạp đó là cần phải có cái nhìn khác đi về nợ công và về vay nợ chi tiêu. Các nước, các tổ chức tài chính có thể cho chúng ta vay trong lúc khó khăn, 10 hoặc 20 năm chứ họ cũng không thể cho chúng ta vay mãi được, hoặc thậm chí chính họ cũng khó khăn thì việc vay cuối cùng sẽ phải trả. Chúng ta cần phải học cách quản lý nguồn vốn của mình sao cho việc sinh lợi từ đồng vốn đã vay là cao nhất. Việc thắt chặt chi tiêu, giám sát chi tiêu của chính phủ là điều vô cùng quan trọng. Tôi có để ý thấy báo chí lâu nay nói đến “tư duy nhiệm kỳ” và điều này có lẽ cũng đúng đối với vấn đề chi tiêu công, tức là trong nhiệm kỳ của một quan chức nào đó cố gắng lập ra nhiều dự án, dù không có giá trị kinh tế và dựa trên đó để xin ngân sách và chi tiêu không đúng mục đích. Đó chính là sự lãng phí rất lớn và hậu quả thì hiển hiện và chúng ta đều rõ.

Việc Hy Lạp vỡ nợ cũng do không biết thắt chặt chi tiêu, vì quan chức chính phủ thì đã quen việc vung tay quá trán, dân chúng thì quen với việc chi tiêu phóng khoáng trong khi ít lao động, nên việc sụp đổ ngân sách là điều tất yếu. Do vậy, một bài học nữa mà chúng ta cần phải nghiêm túc thắt chặt chi tiêu công, chỉ đầu tư làm những gì thật cần thiết và chắc chắn sinh lợi để đảm bảo khả năng trả nợ. Muốn vậy thì cần có sự phản biện chính sách, thu hút các chuyên gia có tâm, có tầm để đóng góp ý kiến và lựa chọn ra phương án tối ưu. Một vấn đề cũng rất quan trọng, đó chính là phổ biến cho những người nắm giữ việc chi tiêu công, họ phải có trách nhiệm đối với quyết định chi tiêu công của họ, vì quyết định đó không chỉ ảnh hưởng đến những thế hệ đang sống mà còn ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai. Chắc hẳn con cháu chúng ta sẽ chẳng thể tự hào khi những thế hệ trước đó để lại những gánh nợ quá lớn mà họ phải có nghĩa vụ trả.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Văn Don (thực hiện)

 

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *