Một số giải pháp giáo dục pháp luật cho sinh viên

(Pháp lý) – Giáo dục pháp luật (GDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và GDPL, huy động lực lượng của đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các cuộc vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên trong xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật”. GDPL có vai trò hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến ý thức sinh viên để góp phần nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho họ. GDPL là một trong những khâu, những mắt xích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong phạm vi bài viết này, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp GDPL cho sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an ninh trật tự cho sinh viên của một trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (ảnh minh họa)
Hội nghị tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an ninh trật tự cho sinh viên của một trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội (ảnh minh họa)

1. Hoàn thiện và xây dựng các chương trình giáo dục pháp luật

GDPL giúp sinh viên nắm được những tri thức về pháp luật một cách tương đối có hệ thống, từ đó sinh viên hình thành được niềm tin đối với pháp luật, xác định được thái độ và định hướng hành vi phù hợp với pháp luật. Xây dựng cho sinh viên những cơ sở nhân cách ban đầu theo các chuẩn mực đạo đức về pháp luật, sau khi ra trường sẽ trở thành những công dân biết sống, lao động theo Hiến pháp và pháp luật. Trong quá trình GDPL, phương pháp giáo dục tồn tại với tư cách là một thành tố cấu trúc, có mối quan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục. Phương pháp giáo dục pháp luật cần có sự định hướng những kiến thức cơ bản về pháp luật, để sinh viên nắm vững và chấp hành tốt pháp luật. Phương pháp giáo dục được quy định bởi nội dung giáo dục và đặc điểm của sinh viên do đó phương pháp GDPL cần phải:

Thứ nhất, gắn với quá trình dạy và học: Vì đây là quá trình mang đặc trưng của tính chất hai mặt, nghĩa là bao gồm hai hoạt động “hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng. Hoạt động dạy của thầy đóng vai trò chủ đạo và hoạt động học của trò đóng vai trò tích cực, chủ động. Vì vậy, phương pháp GDPL là tổng hợp những cách thức làm việc của thầy và của trò. Các mối quan hệ này có thể thực hiện trực tiếp bằng lời, có thể gián tiếp bằng chữ.

Thứ hai, GDPL phải gắn với ngành nghề đào tạo của Nhà trường: Điều này thể hiện tính mục đích đào tạo rõ nét của nhà trường, nó đòi hỏi phương pháp dạy học các bộ môn cơ bản, cơ sở và chuyên ngành trong đó có GDPL đều phải hướng vào mục tiêu đào tạo của trường, nó yêu cầu người giảng viên ngoài việc trang bị tri thức khoa học cần phải chú ý rèn luyện cho sinh viên hành vi ứng xử trong cuộc sống và kỹ năng vận dụng trong nghề nghiệp sau này. Bằng cách đó sinh viên sẽ hứng thú, tự giác học tập pháp luật, không coi học pháp luật là thừa, là sự bắt buộc miễn cưỡng, là môn phụ. Ngược lại nếu tách rời GDPL với ngành nghề đào tạo thì nội dung có thể bị chệch hướng, sinh viên sẽ hạ thấp vai trò của pháp luật, không tích cực học tập bộ môn này. Vì vậy, đặc điểm này phải được tính đến khi xây dựng chương trình, lựa chọn nội dung và phương pháp GDPL trong nhà trường.

image001Thứ ba, gắn với thực tiễn xã hội, cuộc sống và phát triển của khoa học công nghệ: Đây là phương pháp thể hiện mối liên kết có tính quy luật giữa giáo dục – đào tạo với khoa học và sản xuất. Đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng dạy phải luôn bám sát yêu cầu của thực tiễn kinh tế – xã hội và sự phát triển của khoa học, công nghệ để kịp thời đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo nói chung và GDPL nói riêng. Nắm được đặc điểm này, phương pháp GDPL sẽ khắc phục được nhược điểm của nội dung GDPL trong nhà trường là “ít bổ sung, sửa đổi và thiếu tính thời sự” và theo kịp “trạng thái động” của các thông tin cơ bản trong nội dung GDPL. Đồng thời phải quan tâm tới việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy học, phải tăng cường sử dụng các thiết bị, phương tiện dạy học, đặc biệt các phương tiện hiện đại nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong GDPL.

Thứ tư, GDPL gắn liền với phương pháp nghiên cứu khoa học, phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của sinh viên: Là phản ánh yêu cầu cao về mục đích, nội dung dạy học, mặt khác phản ánh đặc điểm của đối tượng sinh viên ở lứa tuốỉ đang “phồn vinh trí tuệ”. Đòi hỏi giảng viên trong quá trình giảng dạy phải chú ý trình bày các quan điểm khác nhau, các học thuyết khác nhau về một vấn đề nào đó, phải tôn trọng ý kiến của sinh viên, tổ chức, tạo điều kiện giúp cho sinh viên tích cực tham gia hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học để không những nắm được chân lý đã có mà còn góp phần tìm ra chân lý mới.

Thứ năm, việc đào tạo ở trường Đại học công nghiệp Hà Nội là rất đa dạng, phong phú, nó tùy theo mỗi Khoa, mỗi ngành và tùy thuộc vào điều kiện, đặc điểm của giảng viên và sinh viên: Vì phản ánh tính chất phong phú, phức tạp của hoạt động dạy học đòi hỏi người giảng viên trong quá trình giảng dạy phải vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, trên cơ sở mở rộng áp dụng công nghệ thông tin và phương tiện trang thiết bị dạy học hiện đại một cách linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với mỗi khoa, mỗi ngành, đặc biệt là đặc điểm của sinh viên. Đòi hỏi trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của giảng viên cần được tăng cường nhằm đạt chuẩn trình độ quốc gia và quốc tế.

Như vậy, GDPL phải được phối hợp nhiều phương pháp chủ yếu như thuyết trình; trình bày trực quan; đàm thoại; đọc sách và tài liệu; luyện tập; tập thói quen rèn luyện, ứng xử phù hợp vơi pháp luật … Việc lựa chọn các phương án, hình thức GDPL cho sinh viên phải phụ thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng giáo dục. Để việc GDPL có hiệu quả, cần phải lựa chọn và sử dụng tổng hợp, hài hòa các phương pháp: sư phạm, tâm lý, tư duy lôgic, thực hành, giải quyết tình huống cụ thể, trực quan. Tăng cường thái độ học tập tích cực, phát huy sự động não cá nhân, sử dụng nhiều hơn phương pháp “nghiên cứu theo tình huống”, phương pháp “giải quyết vấn đề”, mở rộng các hình thức GDPL ngoại khóa cho sinh viên. Mặt khác, cần tổ chức biên soạn và dịch thuật một hệ thống sách giáo trình và sách tham khảo đầy đủ và cần tổ chức nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên. Đồng thời phải có phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên với những tiêu chí cải tiến cơ bản, cần đưa vào sử dụng các phương pháp đánh giá có tính khách quan cao hơn, vừa đánh giá trình độ nhận thức, vừa đánh giá mức độ rèn luyện qua hành vi chấp nhận Nội quy nhà trường và pháp luật Nhà nước. Trong quá trình giảng dạy, giảng viên luôn gắn lý luận với thực tiễn sinh động để sinh viên dễ tiếp thu, dễ nhớ và dễ vận dụng vào cuộc sống nhằm đạt được hiệu quả cao trong quá trình học tập.

2. GDPL trong đào tạo phù hợp với thực tiễn gắn với chuyên ngành học của sinh viên

Muốn công tác GDPL đạt hiệu quả cao thì GDPL trong đào tạo phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, phải gắn công tác phổ biến, GDPL với tính chất, đặc điểm nghề nghiệp và chuyên ngành học của sinh viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trước hết người giảng viên giảng dạy pháp luật phải không ngừng học tập, nghiên cứu, mở rộng kiến thức pháp lý, nâng cao năng lực giảng dạy, phương pháp giảng dạy nhất là các phương pháp giảng dạy hiện đại, phù hợp với từng loại đối tượng. GDPL cho sinh viên phải phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn với chuyên ngành học của sinh viên. Đây là yêu cầu phản ánh xu hướng của thời đại, mọi hoạt động của quá trình GDPL phải bám sát, gắn chặt với thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước, thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường.

3. Phát huy tính tự giác của sinh viên trong hoạt động GDPL

Sinh viên là tầng lớp xã hội tiến bộ, được tiếp thu có hệ thống những tri thức tinh túy của nhân loại nói chung và của đất nước nói riêng. Họ là những người có khả năng sáng tạo, tích cực, nhanh nhẹn, năng động trong học tập, nghiên cứu, ứng dụng cũng như trong các quan hệ xã hội. Sinh viên có khả năng và mong muốn trở thành công dân tốt, người lao động có trình độ, do đó họ luôn tìm tòi, ham hiểu biết, chịu khó học hỏi cái mới và thường có quyết tâm cao để thể hiện ý chí của mình.

Người cán bộ quản lý muốn phát huy được tính tích cực trong hoạt động tự giáo dục của sinh viên cần chú ý tổ chức các hoạt động theo tinh thần dân chủ, đề cao vai trò chủ thể của sinh viên trong học tập, rèn luyện pháp luật, thực hiện các nội quy, quy chế của nhà trường. Đồng thời giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa giảng viên với sinh viên, giữa giảng viên với cán bộ quản lý. Mặt khác cần phải tạo điều kiện thuận lợi về vật chất, tinh thần cho sinh viên để thực hiện tốt các hoạt động tự giáo dục, đảm bảo chất lượng trong GDPL.

4. Đổi mới và sử dụng có hiệu quả các phương pháp và hình thức GDPL

Để thực hiện việc đổi mới trong giáo dục nói chung và công tác GDPL nói riêng đối với nhà trường cần phải thực hiện phương châm đa dạng hóa các hình thức giáo dục thông qua việc sử dụng một số hình thức GDPL sau:

Một là, giảng dạy trực tiếp trên lớp: Đây là hình thức cơ bản, quan trọng nhất trong tất cả các hình thức GDPL, có tác dụng trực tiếp lên đối tượng giáo dục về hệ thống những tri thức, lý luận và thực tiễn từ đó hình thành nên ý thức pháp luật cho sinh viên.

Hai là, thực hiện tự học, tự tìm hiểu về pháp luật: Đi đôi với việc tham gia học tập theo chương trình quy định, việc tự học, tự tìm hiểu về pháp luật của sinh viên là rất có ích. Để thực hiện hoạt động này, sinh viên phải tự học tập, tự nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật cho mình một cách phù hợp, thiết thực. Bên cạnh đó nhằm phát huy mặt mạnh của hình thức này cần có sự hướng dẫn của giảng viên và tạo mọi điều kiện cần thiết về tài liệu, thời gian, áp dụng những biện pháp khuyến khích học tập, động viên sinh viên hăng say, ham học tập, tự tìm hiểu những kiến thức về pháp luật.

Ba là, GDPL thông qua ngoại khóa: Có thể nói đây là hình thức GDPL rất sinh động. Thực hiện hình thức này sẽ hoàn chỉnh hơn những kiến thức pháp luật sinh viên đã học trên lớp, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người học.

Bốn là, GDPL thông qua các hoạt động thực tiễn: Đây là hình thức GDPL rất cần thiết, có tầm quan trọng như hình thức giáo dục ngoại khóa, qua đó nhằm thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn mà trong trường nên thực hiện, từ đó nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.

Năm là, GDPL thông qua các phương tiện thông tin và truyền thông: Các phương tiện thông tin và truyền thông có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt cho sinh viên. So với hình thức giảng dạy pháp luật đây cũng là hình thức GDPL cơ bản, có hiệu quả cao, nhưng chỉ thực hiện trong những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập và quỹ thời gian…

GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, hành vi nhằm hình thành ý thức pháp luật đúng đắn, thói quen hành động phù hợp với quy định của pháp luật và đòi hỏi của nền pháp chế hiện hành. Việc quan tâm GDPL cho sinh viên là nhiệm vụ cấp bách và vô cùng quan trọng nhưng cũng hết sức khó khăn phức tạp và không thể tiến hành trong một thời gian ngắn mà là cả quá trình lâu dài nhằm thay đổi nhận thức về GDPL của các cấp các ngành cũng như sự cố gắng của các nhà trường trong việc xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung chương trình, biên soạn tài liệu, đổi mới phương pháp dạy và học. Hy vọng công tác GDPL cho sinh viên trường đại học Công nghiệp Hà Nội trong thời gian tới ngày càng hiệu quả hơn.

ThS. Nguyễn Thị Phương Dung
Khoa Lí luận chính trị – Pháp luật
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *