Bỏ phiếu tín nhiệm và những vướng mắc pháp lý

(Pháp lý) – Theo dự thảo đề án đổi mới hoạt động của Quốc hội, hàng năm Quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm với các chức danh do Quốc hội bầu, bao gồm cả Thủ tướng và Chủ tịch nước. Từ dự thảo này có một vấn đề đặt ra là cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm cần phải được xây dựng ra sao để bỏ phiếu tín nhiệm thực sự đúng nghĩa là công cụ của Quốc hội kiểm soát quyền lực Chính phủ, để Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83 Câu 1 Hiến pháp 1992).

Năm 2001, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, trong đó bổ sung nội dung: “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” tại Điều 84 Khoản 7.

Có cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm, Quốc hội sẽ thực quyền hơn.

Sau đó tại Điều 12, Luật Tổ chức Quốc hội đã qui định: “… Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội hoặc kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội”.

Luật có quy định nhưng đến nay Quốc hội Việt Nam chưa một lần thực hiện việc bỏ phiếu tín nhiệm. Lý do thì nhiều, nhưng quan trọng là những vướng mắc về mặt pháp lý sau:

Thứ nhất, theo qui định, yêu cầu phải có ít nhất hai mươi phần trăm (20%) tổng số đại biểu Quốc hội kiến nghị thì việc bỏ phiếu tín nhiệm mới sảy ra, thực tế là một việc bất khả thi. Hơn nữa, cùng với qui định này, luật cũng chưa có qui định việc các đại biểu có quyền được bàn bạc, trao đổi công khai để lấy ý kiến. Cộng với tâm lý nể nang, ngại đụng chạm, qui định bỏ phiếu tín nhiệm càng trở nên khó thực hiện trên thực tế.

Thứ hai, lâu nay ở Việt Nam những thông tin mà Đại biểu có được thường từ nhiều nguồn và độ tin cậy rất khác nhau. Những thông tin này thường chưa đủ tính pháp lý, khách quan và thuyết phục cho việc phản biện hay bỏ phiếu tín nhiệm.

Thứ ba, Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội đã qui định về bỏ phiếu tín nhiệm nhưng qui trình, thủ tục tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm như thế nào, thời hạn tiến hành ra sao vẫn chưa có những qui định cụ thể. Thiếu qui định chi tiết, nên người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng, người chịu trách nhiệm trước Quốc hội, khi muốn thăm dò tín nhiệm để biết hiện tại trong số các Đại biểu Quốc hội có bao nhiêu Đại biểu Quốc hội ủng hộ cho chính sách của mình cũng không thể thực hiện được. Điều này thể hiện sự thiếu minh bạch.

Thứ tư, có một bất cập hiện vẫn chưa được giải đáp là ở nước ta Đảng lãnh đạo và Đảng quyết định công tác cán bộ, vậy thì nếu Quốc hội bất tín nhiệm, rồi miễn nhiệm đối với người giữ  chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (Điều 12 Luật tổ chức Quốc hội), người đó là Đảng viên thì Quốc hội hay Đảng sẽ quyết định.

Như vậy, có thể thấy rằng Điều 84 Khoản 7 Hiến pháp 1992 và các qui định về bỏ phiếu tín nhiệm hơn mười năm qua đã cho thấy rõ sự bất cập, chưa áp dụng được vào thực tế. Theo tôi để qui định này đi vào cuộc sống cần xem xét, bổ sung các nội dung sau vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này và dự thảo đề án đổi mới hoạt động của Quốc hội:

Thứ nhất, bổ sung qui định: “Bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn được diễn ra thường xuyên sau mỗi kì họp”. Không thể chậm chễ, muốn minh bạch hóa, hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm cần phải được tiến hành thường xuyên, thực chất, bất kể lúc nào nếu cần, chứ không nhất thiết là một năm tổ chức một lần có tính hình thức, vì nếu trách nhiệm không được làm rõ một cách kịp thời, đó sẽ là nguyên nhân để nhiều sai lầm tiếp tục tái diễn và để lại tác hại lâu dài.

Thứ hai,  cần giảm tỉ lệ phần trăm tổng số Đại biểu Quốc hội kiến nghị (thay vì mức quá cao là 20% hiện nay) và cho phép có một thời gian nhất định để thảo luận , bàn bạc công khai lấy ý kiến. Đồng thời vì đây là bỏ phiếu tín nhiệm nên để tránh kéo dài, mất nhiều thời gian, cần quy định rõ trong Hiến pháp: “Nhóm đại biểu kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm phải có nghĩa vụ đưa ra danh sách người ứng cử kế nhiệm thay thế người  đương nhiệm để Quốc hội bầu. Người  được bầu sẽ tiếp tục hoạt động theo nhiệm kì của Quốc hội khóa đó”.

Thứ ba, cần thành lập Ủy ban điều tra của Quốc hội. Thiết chế này sẽ là cơ quan độc lập và góp phần cung cấp những thông tin xác thực cần thiết cho Đại biểu Quốc hội làm căn cứ bỏ phiếu tín nhiệm.

Thứ tư, nếu chỉ qui định bỏ phiếu tín nhiệm, đấy mới chỉ là một nửa của vấn đề. Theo tôi, cần phải tạo lập một cơ chế hai chiều, cần bổ sung thêm qui định thăm dò tín nhiệm nữa.

Thứ năm, Hiến pháp cần qui định rõ sự gắn kết giữa trách nhiệm của Đảng và trách nhiệm của Chính phủ trong việc hoạch định chính sách phát triển đất nước và đồng thời chịu trách nhiệm về những chính sách ấy. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 83 Câu 1 Hiến pháp 1992), do vậy Quốc hội phải hoàn toàn độc lập trong việc bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Nguyễn Minh Tuấn
NCS Khoa Luật, Đại học Saarland, CHLB Đức