Vụ kỳ án ở Nhơn Trạch, Đồng Nai: Bản án sơ thẩm được giữ nguyên theo Quyết định kháng nghị

(Pháp lý). Vụ kỳ án kéo dài 15 năm giữa nguyên đơn Lê Thị Mỹ với bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Xuân Phong, bà Trần Thị Lan liên quan đến 2 ha đất ở bãi phá hủy bom mìn xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai, đã được Tạp chí Pháp lý theo dõi, đưa tin, bình luận nhiều lần. Mới đây Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định kháng nghị đối với bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai. Pháp lý xin đăng bài của ông Đỗ Văn Chỉnh, nguyên Trưởng ban Thanh tra TANDTC bình luận về sự kiện này.

Knghi DN 1

Quyết định kháng nghị đúng pháp luật, hợp lòng dân

Ngày 12/7/2017, Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 50/2017/KN-DS đối với bản án dân sự phúc thẩm số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 của TAND tỉnh Đồng Nai xét xử vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Mỹ (ở nhà 18A đường Lê Duẩn, khu 12, xã Long Đức, huyện Long Thành, Đồng Nai) với các bị đơn là ông Nguyễn Xuân Phong, bà Trần Thị Lan (ở ấp Vĩnh Tuy, xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh Quang ( ấp Long Hiệu, xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai).

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án TANDTC xác định bản án dân sự phúc thẩm số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 của TAND tỉnh Đồng Nai sửa bản án sơ thẩm là không đúng. Do đó, Chánh án TANDTC quyết định: “1.Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Mỹ với các bị đơn là ông Nguyễn Xuân Phong, bà Trần Thị Lan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thanh Quang. 2. Đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm lại”.

Quyết định kháng nghị của Chánh án TANDTC còn quyết định “Tạm đình chỉ thi hành bản án dân sự phúc thẩm nêu trên cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm”.

Chúng tôi nhận thấy Quyết định kháng nghị của Chánh án TANDTC đối với bản án dân sự phúc thẩm số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 của TAND tỉnh Đồng Nai là đúng pháp luật và hợp lòng dân. Vì vụ án này vào trước năm 2014 hai cấp Tòa án ở tỉnh Đồng Nai đã xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm lần thứ nhất nhưng đều bị hủy bỏ theo thủ tục giám đốc thẩm, vì xét xử không đúng qui định của pháp luật và yêu cầu xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng pháp luật.

Khnghi 1

Nhìn lại hành trình vụ kỳ án

Năm 1989, bà Mỹ có nhờ ông Quang “sang nhượng” giúp 2 ha đất thuộc xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai. Sau khi sang nhượng được đất, ông Quang lại giúp bà Mỹ thuê người cày và mua cây về trồng. Tuy nhiên, cây trồng bị chết nhiều, bà Mỹ còn nợ ông Quang tiền trồng cây nên ngày 6/6/1991 ông Quang sang nhượng 2 ha đất đó cho vợ chồng ông Phong bà Lan ( sau là bị đơn trong vụ án). Việc mua bán có xác nhận của chính quyền địa phương. Năm 1992, bà Mỹ có đơn yêu cầu chính quyền giải quyết vụ việc này. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch nhận thấy đây là tranh chấp dân sự nên ngày 19/5/1992 đã hòa giải. Kết quả được ghi biên bản có chữ ký các bên do Viện kiểm sát lập có nội dung như sau: Sau khi trừ số tiền mà bà Mỹ nợ ông Quang thì ông Quang phải bồi thường cho bà Mỹ 5,5 chỉ vàng 24 K. Do ông Quang chưa trả được số vàng trên cho bà Mỹ nên ngày 2/7/1993 ông Quang lại ký giấy thỏa thuận trả cho bà Mỹ 18 chỉ vàng 24K, vợ chồng ông Phong bà Lan tự nguyện hỗ trợ ông Quang 2,5 chỉ vàng để ông Quang trả bà Mỹ. Tuy nhiên, ông Quang không trả được 18 chỉ vàng cho bà Mỹ.

Ngày 10/8/1999 bà Mỹ khởi kiện tại Tòa án, nhưng không khởi kiện ông Quang mà khởi kiện ông Phong, bà Lan. Tòa án huyện Nhơn Trạch chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Phong, bà Lan phải thanh toán trị giá 2 ha đất cho bà Mỹ. Bị đơn kháng cáo. Bản án Dân sự phúc thẩm số 152/DSPT ngày 28/11/2002 của TAND tỉnh Đồng Nai buộc vợ chồng ông Phong thanh toán giá trị 2 ha đất cho bà Mỹ là 900.000.000 đồng.

Vợ chồng ông Phong khiếu nại, báo chí có nhiều bài viết không đồng tình với hai bản án của hai cấp xét xử tại Tòa án Đồng Nai. Sau tròn 10 năm, đến ngày 11/10/2012 Chánh án TANDTC Trương Hòa Bình đã kháng nghị tái thẩm và Quyết định tái thẩm của TANDTC đã hủy Bản án phúc thẩm số 152/DSPT ngày 28/11/2002 của TAND tỉnh Đồng Nai và Bản án sơ thẩm số 58/DSST của TAND huyện Nhơn Trạch.
Ngày 11/7/2014 TAND huyện Nhơn Trạch đưa vụ án ra xử sơ thẩm lại theo Quyết định tái thẩm của TANDTC, đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Mỹ đối với ông Phong, bà Phong với nhận định: Vụ việc tranh chấp đã được bà Mỹ và ông Quang giải quyết bằng tự thỏa thuận tại VKSND huyện Nhơn Trạch ngày 19/5/1992, sau đó ông Quang và bà Mỹ lại tự thỏa thuận nâng mức bồi thường từ 5,5 chỉ vàng lên 18 chỉ vàng 24K. Như vậy là vụ việc đã tự giải quyết xong. Do đó, yêu cầu của bà Mỹ đối với ông Phong, bà Lan là không có căn cứ. TAND huyện Nhơn Trạch đã quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ đối với các bị đơn Nguyễn Xuân Phong, Trần Thị Lan và dành quyền khởi kiện cho bà Lê Thị Mỹ đối với ông Nguyễn Thanh Quang theo qui định của pháp luật khi có yêu cầu.

Khnghi3

Bà Mỹ kháng cáo dẫn đến TAND tỉnh Đồng Nai đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và ban hành bản án số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015, chấp nhận kháng cáo, buộc ông Phong, bà Lan phải bồi thường cho bà Mỹ 700.000.000 đồng. Phán quyết của TAND tỉnh Đồng Nai gây bức xúc cho bị đơn và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội nhiều lần có công văn đề nghị Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC xem xét kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Vì vậy, Chánh án TANDTC đã quyết định kháng nghị bản án số 247/2015/DS-PT ngày 15/10/2015 của TAND tỉnh Đồng Nai.

Kết mở

Chúng tôi đồng tình với bản án dân sự sơ thẩm số 35/2014/DS-ST ngày 11/7/2014 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai vì đã tôn trọng quyền tự thỏa thuận giữa bà Mỹ và ông Quang về việc giải quyết bồi thường ngoài Tòa án.

Dư luận xã hội và những người quan tâm đến vụ án kéo dài nhiều năm này mong rằng Tòa án tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm lại vụ án (lần thứ ba) cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2014/DS-ST ngày 11/7/2014 của TAND huyện Nhơn Trạch với lý do giản dị là bản án sơ thẩm này không bị quyết định kháng nghị của Chánh án TANDTC đề nghị hủy bỏ.

Đỗ Văn Chỉnh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *