Bảo đảm quyền và nghĩa vụ của “Luật sư bào chữa” trong hoạt động tố tụng hình sự

(Pháp lý) – Luật sư khi tham gia hoạt động tố tụng hình sự thể hiện vai trò của mình thông qua tư cách người bào chữa cho người bị buộc tội hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa thông qua quyền và nghĩa vụ của mình, vai trò luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự mới thực sự thể hiện rõ và toàn diện hơn cả. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa là luật sư cũng đặc biệt và ưu việt hơn so với những người bào chữa khác. Vì vậy đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người bào chữa là luật sư cũng là bảo đảm tốt nhất về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong vụ án hình sự.

Luật sư bào chữa khi tham gia hoạt động tố tụng hình sự sẽ chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và Luật luật sư. Do vậy, luật sư bào chữa phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định tại Điều 73 BLTTHS và quyền, nghĩa vụ của luật sư theo quy định tại Điều 21 Luật Luật sư và các quy định khác có liên quan.

Các luật sư tham gia bào chữa trong một vụ án hình sự (ảnh minh họa)
Các luật sư tham gia bào chữa trong một vụ án hình sự (ảnh minh họa)

Quyền và nghĩa vụ của Luật sư theo quy định của pháp luật

Luật sư bào chữa có các quyền cụ thể sau:

– Được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư và quy định của pháp luật có liên quan (điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Luật sư).

– Đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cho phép người tập sự hành nghề luật sư được đi cùng luật sư hướng dẫn trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Luật sư .

– Gặp, hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm a khoản 1 Điều 73 BLTTHS).

– Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can (điểm b khoản 1 Điều 73 BLTTHS).

– Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này (điểm c khoản 1 Điều 73 BLTTHS). Quy định này chi tiết và đầy đủ hơn so với BLTTHS năm 2003, góp phần thực hiện nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự về “bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội …” (Điều 16 BLTTHS);

– Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này (điểm d khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa (điểm đ khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế (điểm e khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm g khoản 1 Điều 73 BLTTHS). Một quyền mới và quan trọng của luật sư bào chữa so với BLTTHS năm 2003;

– Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm h khoản 1 Điều 73 BLTTHS). Quyền này bảo đảm phát huy năng lực, kỹ năng hành nghề của luật sư bào chữa trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ hợp pháp liên quan đến vụ án có lợi cho người bị buộc tội;

– Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá (điểm i khoản 1 Điều 73 BLTTHS). Đây là quy định mới về quyền của Luật sư bào chữa so với BLTTHS năm 2003, được cụ thể hóa tại các Điều 108, từ Điều 312 đến Điều 316 và Điều 322 BLTTHS;

– Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản (điểm k khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra (điểm l khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa (điểm m khoản 1 Điều 73 BLTTHS). Quyền này thể hiện nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 BLTTHS) và được làm rõ hơn từ Điều 307 đến Điều 322 BLTTHS quy định liên quan đến hoạt động tranh tụng của luật sư bào chữa;

– Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm n khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

– Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này (điểm o khoản 1 Điều 73 BLTTHS);

Ngoài ra, Luật sư bào chữa còn được bảo đảm sự bình đẳng với người thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự. Quy định mới góp phần tạo sự bình đẳng giữa bên công tố (kiểm sát viên) và Bên bào chữa (Luật sư bào chữa) thông qua việc “Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác” (khoản 1 Điều 257 BLTTHS); được cụ thể hóa tại Điều 3, Điều 4 Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/ 7/ 2017 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án.

Luật sư bào chữa có các nghĩa vụ cụ thể sau:

– Tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật sư quy định tại Điều 5 của Luật Luật sư (điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Luật sư).

– Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (điểm a khoản 2 Điều 73 BLTTHS).

– Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (điểm b khoản 2 Điều 73 BLTTHS).

– Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan (điểm c khoản 2 Điều 73 BLTTHS).

– Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật (điểm d khoản 2 Điều 73 BLTTHS). Nghĩa vụ này cũng được quy định trong những nguyên tắc hành nghề luật sư tại khoản 1, 2, 3 Điều 5 và các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại điểm b, d, đ, k khoản 1 Điều 9 của Luật Luật sư;

– Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (điểm đ khoản 2 Điều 73 BLTTHS).

– Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm e khoản 2 Điều 73 BLTTHS).

– Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS). Nghĩa vụ mới bổ sung thêm so với BLTTHS năm 2003 và được làm rõ tại Điều 5 Luật Luật sư; Quy tắc 12 về giữ bí mật thông tin trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Ngoài ra, Luật sư bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự cũng bị nghiêm cấm thực hiện các hành vi theo quy định tại Điều 9 Luật Luật sư.

Qua phân tích về quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự có thể thấy rằng: BLTTHS đã sửa đổi, bổ sung thêm một số quy định về quyền, nghĩa vụ so với BLTTHS năm 2013; quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa là sự tổng hợp đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về luật sư và quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Chính sự đổi mới và chịu sự điều chỉnh bởi nhiều lĩnh vực pháp luật đặc thù có liên quan đã góp phần bảo đảm và tạo điều kiện để Luật sư bào chữa phát huy khả năng chuyên môn, kỹ năng hành nghề và giữ gìn chuẩn mực đạo đức, ứng xử trong hành nghề luật sư nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn những khó khăn trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa khi tham gia tố tụng trong vụ án hình sự.

Một số khó khăn trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Luật sư

– Quyền của luật sư bào chữa thực hiện chưa hiệu quả, còn bất cập

Một số quyền của luật sư bào chữa còn mang tính chung chung, hình thức, chưa cụ thể hoặc không được bảo đảm khi thực hiện, như: quyền được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho luật sư bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia (điều 79 BLTTHS). “Thời gian hợp lý” được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 70/2011/TT-BCA quy định thông báo trước 24 giờ hoặc tối đa 48 giờ trên thực tế nhiều trường hợp không khả thi hoặc hiệu quả thực hiện không cao đối với luật sư bào chữa bởi vì với khoảng thời gian như vậy trong khi luật sư phải thực hiện cung cấp dich vụ pháp lý cho nhiều khách hàng khác nhau nên rất khó bố trí sắp xếp để tham gia, hoặc tham gia cũng không đạt được hiệu quả cao do chưa có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi gặp người bị buộc tội, ảnh hưởng đến chất lượng bào chữa của Luật sư;

Quyền thu thập chứng cứ, tài liệu của luật sư bào chữa theo khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định chưa hợp lý, khó khả thi: “…khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án.” Trên thực tế khi luật sư bào chữa thu thập được tài liệu, chứng cứ quan trọng liên quan đến vụ án mà có lợi cho người bị buộc tội thường sẽ không giao cho cơ quan tiến hành tố tụng do lo ngại mất đi yếu tố bất ngờ, tính lợi thế trong hoạt động bào chữa của luật sư và ảnh hưởng tới lợi ích của thân chủ; Hay khi thực hiện quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và sau khi người có thẩm quyền kết thúc lấy lời khai, hỏi cung thì luật sư bào chữa được quyền hỏi người bị buộc tội. Trên thực tế việc luật sư tham gia các hoạt động hỏi cung gặp không ít khó khăn. Nhiều trường hợp, người tiến hành tố tụng thay đổi thời gian thậm chí cả địa điểm hỏi lấy lời khai, hỏi cung. Thời điểm luật sư bào chữa hỏi bị can nhiều khi gần giờ nghỉ hay giờ ăn của bị cáo nên thời gian ngắn và hiệu quả không cao;

– Nội dung về nghĩa vụ của luật sư bào chữa có phạm vi thực hiện rộng, còn mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.

Do luật sư bào chữa chịu sự điều chỉnh của cả BLTTHS và Luật Luật sư kèm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam nên nội dung quy định về nghĩa vụ của luật sư bào chữa có phạm vi phải thực hiện là rộng, bên cạnh đó còn có quy định nghĩa vụ của luật sư bào chữa còn mâu thuẫn, chưa thống nhất với quy định của luật có liên quan, như: điểm g khoản 2 Điều 73 BLTTHS quy định “Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Trong khi khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.” Qua so sánh nội dung của hai quy định này nhận thấy sự mâu thuẫn khi BLTTHS quy định hành vi không được “tiết lộ thông tin” của người bị buộc tội, còn BLHS thì ngược lại đưa lên thành hành vi bắt buộc phải “tố giác” người bị buộc tội trong trường hợp theo quy định của pháp luật. Điều này thực sự làm khó luật sư bào chữa không biết phải thực hiện theo quy định nào và nếu phải tố giác chính thân chủ của mình thì lại vi phạm nghiêm trọng Luật Luật sư, các chuẩn mực về đạo đức trong Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

– Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội và đặc biệt là chính luật sư chưa hiểu đầy đủ; chưa tạo điều kiện trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư bào chữa.

Thực tế trong hoạt động tố tụng hình sự, vẫn còn một số các cơ quan, người tiến hành tố tụng và luật sư bào chữa do trình độ, năng lực chuyên môn chưa tốt nên nhận thức chưa đầy đủ, toàn diện nội dung quyền, nghĩa vụ của người bào chữa. Đối với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, một số cán bộ, công chức không nắm rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, kiến thức chuyên môn không vững nên có lúc còn hiểu chưa đầy đủ, không đúng nội dung quy phạm pháp luật liên quan đến quyền nghĩa vụ của người bào chữa, dẫn đến áp dụng sai, vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Một bộ phận luật sư (đặc biệt là người mới hành nghề luật sư) thì chưa cập nhật đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là người bào chữa, bên cạnh đó, đạo đức hành nghề luật sư cũng chưa được coi trọng.

– Quyền con người, quyền bào chữa được hiến định và được luật hóa trong BLTTHS, trong Luật Luật sư và các văn bản pháp luật có liên quan nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều người bị buộc tội không biết hoặc từ chối thực hiện quyền này vì nhiều lý do nên số lượng luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự còn thấp (gồm cả trường hợp luật sư bào chữa theo chỉ định). Điều này ảnh hưởng đến quyền con người, quyền bào chữa của người bị buộc tội chưa thực hiện hiệu quả trong xã hội. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ: nhận thức từ phía cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, vẫn còn một số người có nhận định không đúng, không khách quan về sự tham gia của luật sư bào chữa trong vụ án hình sự. Họ quan niệm việc hiện diện của luật sư bào chữa là sự “cản trở”, “soi mói” các hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dẫn đến thiếu thiện chí, ác cảm, thiếu tôn trọng khi làm việc, tiếp xúc với luật sư bào chữa qua đó “tác động” đến người bị buộc tội từ chối quyền bào chữa; do đặc thù của án hình sự mà người bị buộc tội đa phần có hoàn cảnh éo le, khó khăn, … vì vậy một số luật sư không “mặn mà” với vai trò luật sư bào chữa cho những khách hàng này.

Chính vì vậy, cần có những giải pháp đảm bảo thực hiện quyền của luật sư bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự.

Kiến nghị giải pháp

Hoàn thiện hệ thống pháp luật: BLTTHS năm 2015 được ban hành đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người bào chữa (luật sư bào chữa), tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn quy định mang tính chung chung, hình thức, chưa đầy đủ, cá biệt có quy định mâu thuẫn với luật có liên quan gây khó khăn, lúng túng cho các chủ thể có liên quan khi thực hiện. Cơ quan chuyên môn có thẩm quyền, các nhà làm luật cần tham khảo, tiếp thu, tổng hợp các ý kiến góp ý liên quan và nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn chi tiết, đầy đủ, toàn diện những quy định có nội dung khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau; bổ sung hoàn thiện nội dung các quy định thiếu chặt chẽ, có “kẽ hở”; những quy định có nội dung mâu thuẫn thì cũng cần sửa đổi cho thống nhất.

Nâng cao nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người dân về vị trí, vai trò của luật sư nói chung, luật sư bào chữa nói riêng trong hoạt động tố tụng hình sự. Đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định rằng có sự tham gia của luật sư chính là góp phần bảo đảm sự khách quan, công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,cơ quan, tổ chức; là một kênh giám sát xã hội hữu hiệu đối với các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng ở khía cạnh tích cực góp phần cho các hoạt động tố tụng hình sự ngày một hoàn thiện, đúng pháp luật; năng lực, trình độ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng ngày càng được nâng cao, hoàn thiện, chuyên nghiệp hơn. Đối với người dân cần thông qua các hình thức tuyên truyền, phố biến, giáo dục pháp luật về hình sự kết hợp lồng, ghép các nội dung liên quan về quyền bào chữa và chức năng, vai trò của luật sư. Qua đó, người dân hiểu được vai trò quan trọng của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ, việc người dân tin tưởng tìm đến luật sư – chuyên gia pháp lý nhiều hơn để bảo vệ quyền lợi của mình cũng chính là góp phần bảo đảm các nguyên tắc hiến định về quyền con người được thực thi triệt để trong đời sống xã hội, chất lượng của hoạt động tố tụng hình sự vì thế cũng được nâng cao.

Bản thân luật sư cũng cần phải hiểu và nắm chắc nội dung các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, bên cạnh việc thường xuyên nghiên cứu, cập nhật kịp thời về kiến thức pháp lý, thực hiện nghiêm việc tham gia bồi dưỡng, nghiệp vụ luật sư nhất là bào chữa; trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng về hành nghề, tranh tụng, văn hóa pháp đình; đề cao đạo đức và ứng xử hành nghề luật sư và phải nhận thức đầy đủ trách nhiệm, chức năng xã hội của nghề luật sư, vị trí, vai trò của mình trong hoạt động tố tụng hình sự nhằm góp phần bảo vệ công lý; bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng nói chung, của người bị buộc tội nói riêng; giúp giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trên thì quyền và nghĩa vụ của luật sư nói chung, của luật sư bào chữa nói riêng trong hoạt động tố tụng hình sự mới phát huy hiệu quả thực chất, toàn diện; quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, của người bị buộc tội được bảo đảm; chất lượng hoạt động tố tụng hình sự được nâng cao, thực chất và dân chủ; góp phần bảo đảm công lý được thực thi, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa./.

Luật sư Lê Minh Đức

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *