Khi Tòa án từ chối thụ lý giải quyết vụ án

(Pháp lý) – Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 đã qui định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu tòa bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Đáng chú ý, luật quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.

Trong thực tiễn, có nhiều vụ án người dân gặp khó khăn ngay từ khâu nộp đơn khởi kiện. Hy vọng rằng qui định mới của BLTTDS 2015 sẽ hạn chế tình trạng này.

Bài 1: Gian nan khởi kiện dân sự

Mở đầu một vụ kiện bắt đầu bằng đơn khởi kiện, nhưng thực tế cho thấy thủ tục nộp đơn khởi kiện của ta rất phức tạp, rắc rối khiến không chỉ người dân mà luật sư cũng nản lòng.

Nhiều lý do không có trong luật

Trong một cuộc hội thảo về hoàn thiện BLTTDS để cải thiện môi trường kinh doanh do Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp với Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức, ông Tưởng Duy Lượng – nguyên Phó Chánh án TANDTC, chuyên gia về xét xử án dân sự cho hay: Tất cả các Tòa án đều yêu cầu nguyên đơn khi khởi kiện phải ghi rõ các nội dung, yêu cầu khởi kiện, kể cả đòi hỏi đơn kiện phải kèm theo các bằng chứng hợp pháp. Có Tòa án còn yêu cầu nguyên đơn đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc chính quyền cơ sở nơi bị đơn cư trú xác nhận vào đơn hoặc một văn bản khác là bị đơn hiện vẫn đang cư trú tại địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện thì mới nhận đơn.

Nguyên Phó Chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng phát biểu trong một hội thảo
Nguyên Phó Chánh án TANDTC Tưởng Duy Lượng phát biểu trong một hội thảo

Ông Tưởng Duy Lượng khẳng định: “ Đây là yêu cầu mà luật tố tụng dân sự không qui định, làm khó cho người khởi kiện, phần nào tốn thời gian, gây phiền hà cho người khởi kiện. Bởi vì không phải chính quyền cơ sở, công an xã phường nào cũng sẵn sàng hỗ trợ, xác nhận vào đơn hoặc bằng văn bản cho đương sự”.

Luật sư Đặng Thị Ngọc Hạnh, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thừa Thiên Huế cũng chia sẻ rằng: Tôi từng tiến hành một vụ tranh chấp góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài nhưng sau hai năm đơn khởi kiện mới được Tòa thụ lý khi chúng tôi gửi khiếu nại đi khắp nơi. Luật sư Hạnh cũng “kêu trời” về việc đi xác định nơi cư trú của bị đơn để được Tòa thụ lý.

Một luật sư có thời gian công tác 15 năm tại TANDTC cũng than phiền rằng có vụ án ông theo đuổi 2 năm chưa được thụ lý, trong khi luật qui định là 4 tháng. Cuối cùng đơn phải gửi lên tận Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thì vụ án đó mới được tòa thụ lý.

Những câu chuyện như vậy vẫn diễn ra, người dân và luật sư vướng vào những rào cản đó chỉ biết kêu trời. Một Tòa án quận ở Hà Nội qui định đơn xin ly hôn phải có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố về tình trạng hôn nhân, con chung, con riêng và tài sản của vợ chồng. Nếu chưa có xác nhận đó chưa nhận đơn. Có nguyên đơn bức xúc nói: Chuyện trong nhà chúng tôi làm sao ông tổ trưởng dân phố biết được, lại còn chuyện con chung, con riêng nữa. Mỗi nhà mỗi hoàn cảnh, có những điều là bí mật đời tư, ngày cả người thân cũng không biết mà buộc ông tổ trưởng phải xác nhận thì gặp ông tổ trưởng cẩn thận ông ấy cũng không dám xác nhận. tài sản chung, tài sản riêng, điều đó lại càng khó. Tòa qui định như vậy là gây khó khăn, cản trở chúng tôi thực hiện quyền ly hôn của mình.

Một vụ kiện không phức tạp: Tòa chỉ sang Ủy ban, Ủy ban chỉ sang Tòa…

Trong số nhiều bạn đọc tìm đến Tạp chí Pháp lý xin tư vấn miễn phí, có câu chuyện của ông Phan Lạc Hưng khá điển hình cho hành trình khiếu kiện nhọc nhằn để bảo vệ quyền lợi của mình. Văn bản số 1259/UBND ngày 21/7/2016 của UBND huyện Thạch Thất, Hà Nội trả lời đơn của ông Phan Lạc Hưng và ông Nguyễn Hữu Tước cho biết:

“Sau khi kiểm tra, rà soát, UBND huyện trả lời như sau: Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5, xã Hữu Bằng, diện tích 143,1 m2 có nguồn gốc là đất được nhận phân chia từ 1/3 diện tích thửa ao ông cha để lại ( thửa đất ao được chia cho con, cháu của ba cụ là Phan Lạc Lân, Phan Mộng Liên và Phan Lạc Hách) do bà Trần Thị Sáu (vợ ông Phan Lạc Lợi) là người đại diện cho con cháu cụ Phan Lạc Lân đứng ra nhận chia ( Cụ Lân có hai người con là ông Phan Lạc Lợi và bà Phan Thị Chỉ đều đã chết).

Ngày 24/4/1998, bà Trần Thị Sáu đã viết giấy chuyển nhượng bán 100m2 diện tích đất ao được phân chia cho con cháu cụ Lân ( khi chưa được sự đồng thuận của con cháu bà Phan Thị Chỉ là mẹ đẻ ông Nguyễn Hữu Tước) cho ông Nguyễn Lương Tùng, sinh năm 1945 tại thôn Giếng, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (việc chuyển nhượng không thông qua chính quyền địa phương).

Ngày 26/6/2007, ông Nguyễn Lương Tùng… làm đơn xin cấp giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5, xã Hữu Bằng, diện tích 143,1 m2 tại thôn Ba Mát, xã Hữu Bằng; sau khi nhận đơn đề nghị… UBND xã Hữu Bằng đã ký xác nhận vào đơn ( là đất thổ cư, nhận chuyển nhượng, sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với qui hoạch) và tiến hành xét duyệt, lập hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNQSD đất số AB 502936 ngày 5/6/2008 cho ông Nguyễn Lương Tùng… đối với thửa đất trên.

Ngày 14/9/2011 ông Nguyễn Lương Tùng và vợ đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với GCNQSD đất thuộc thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5, xã Hữu Bằng cho con trai là Nguyễn Kỳ Tráng và con dâu là Nguyễn Thị Thu…

Năm 2015, ông Phan Lạc Hưng (con cháu cụ Phan Lạc Hách) nhận thấy một số diện tích đất của thửa đất đã chia cho con cháu cụ Phan Lạc Hách bị cấp nhầm sang thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5, xã Hữu Bằng diện tích 143,1 m2, đã làm đơn đề nghị hủy bỏ GCNQSD đất số AB 502936 ngày 5/6/2008 đã cấp cho ông Nguyễn Lương Tùng.

Một phiên tòa dân sự (ảnh minh họa)
Một phiên tòa dân sự (ảnh minh họa)

Cùng thời điểm năm 2015, ông Nguyễn Hữu Tước ( con trai bà Phan Thị Chỉ) nhận thấy thửa đất ao (đã chia cho con cháu cụ Lân) đã cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Lương Tùng nên cũng làm đơn đề nghị hủy bỏ GCNQSD đất số AB 502936 ngày 5/6/2008 đã cấp cho ông Nguyễn Lương Tùng…

Theo qui định tại điểm d, khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực thi hành ngày 1 tháng 7 năm 2014 thì “Nhà nước không thu hồi GCNQSD đất trong trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển đổi quyền sử dụng đất, chuyển nhượng sở hữu tài sản gắn liền với đất theo qui định của pháp luật đất đai”. Vì vậy ông Phan Lạc Hưng, ông Nguyễn Hữu Tước và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5 xã Hữu Bằng có quyền làm đơn đến Tòa án nhân dân các cấp để được giải quyết.

UBND huyện trả lời, hướng dẫn ông Phan Lạc Hưng, Nguyễn Hữu Tước và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất số 169, tờ bản đồ số 5 xã Hữu Bằng thực hiện quyền làm đơn đến Tòa án nhân dân các cấp để được xem xét, giải quyết, bảo đảm quyền lợi”.

Ông Hưng chia sẻ: Thửa ao liền kề thửa đất, giữa ao và sân có bức tường cổ kính của gia đình tôi. Bức tường cổ bị đổ, khi chúng tôi xây lại thì gia đình ông Tùng ra ngăn cản và ngang nhiên lấy sân nhà tôi làm lối đi, mà trước đó khi tường chưa xây ông Tùng xin đi nhờ. Tranh chấp xảy ra ông Tùng mới cho biết là đã mua phần ao của gia đình ông Kiên và đã được cấp sổ đỏ. Trong giấy viết tay đề 100 m2 nhưng sổ đỏ được cấp tăng lên thành 143,1 m2. Từ sổ đỏ cấp sai trái này mà nhà ông Tùng hiện nay ngang nhiên trổ cổng sang sân nhà tôi làm lối đi.

Ông Tước cũng phản đối vì tài sản được thừa kế chưa phân chia, gia đình ông Tước không đồng ý cho gia đình ông Kiên được bán phần ao chung đó.

Ông Kiên và ông Tước làm đơn lên Tòa án thì Tòa án không thụ lý, hướng dẫn khiếu nại sang UBND huyện là nơi cấp sổ đỏ. Sau một thời gian chờ đợi thì UBND huyện Thạch Thất có văn bản 1259/UBND ngày 21/7/2016 trả lời như đã nêu. Văn bản đã phản ánh tương đối đầy đủ vụ việc và hướng dẫn đương sự khởi kiện tại Tòa án.

Thực hiện theo hướng dẫn, ông Hưng và ông Tước lại làm đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ gồm có: Biên bản phân chia di sản năm 1980; Bản sao Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Kiên và ông Tùng; Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 502936 đã cấp cho ông Nguyễn Lương Tùng; Văn bản số 1295/UBND-TTr của UBND huyện Thạch Thất. Tuy nhiên, sau khi gửi đơn 1 tháng, ông Hưng và ông Tước không nhận được giấy báo của Tòa án, lên gặp trực tiếp thì Thẩm phán nhận đơn lại hướng dẫn đương sự mang đơn về và tiếp tục khiếu nại lên UBND TP Hà Nội. Những hướng dẫn và giải quyết đó của Tòa án đều không có văn bản.

Với cách tiếp nhận đơn và xử lý như vậy, không biết bao giờ yêu cầu chính đáng của ông Phan Lạc Hưng, ông Nguyễn Hữu Tước và những người có quyền lợi liên quan được giải quyết dứt điểm. Đề nghị TAND và VKSND TP Hà Nội quan tâm, chỉ đạo để người dân không gặp khó khăn trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết vụ kiện đúng pháp luật.

Nguyễn Phan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *