Hoài Nhơn – Bình Định: Chính quyền vô cảm, Tòa án thiếu khách quan, người trồng rừng “rưng rưng nước mắt” (?)

(Pháp lý) – Ngày 25/7/2013 vừa qua, TAND tỉnh Bình Định đã tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án dân sự “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại” trên diện tích đất 1,5 ha tại lô C9, C10 – khoảnh 6 – tiểu khu 106. Nguyên đơn là bà Nguyến Thị Ái Vy (thường trú tại Thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, Bình Định), phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm năm hộ dân: Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Anh Quang, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Hiếu, Nguyễn Minh Tiến (cùng thường trú tại thôn Diễn Khánh, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn).

Bộc lộ thiếu sót qua hai phiên xét xử

Bản án dân sự phúc thẩm số 99/2013/DS-PT ngày 25/7/2013 đã tuyên xử buộc 05 năm hộ dân “…phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền chiếm hữu hợp pháp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Ái Vy” và “buộc ông Nguyễn Thành Trung phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ái Vy 6.120.000 đồng”. Đồng thời “giao cho bà Nguyễn Thị Ái Vy được sử dụng các cây keo, bạch đàn” do năm hộ dân đã trồng trên đất và “bà Nguyễn Thị Ái Vy phải trả lại giá trị số cây còn sống” (trong khi tại Bản án sơ thẩm số 86/2013/DS-ST ngày 24/4/2013 tuyên xử buộc năm hộ dân phải tự dỡ, dọn hết số cây keo, bạch đàn này).

Ông Nguyễn Thành Trung và khoảnh rừng trồng của gia đình hiện đang tranh chấp.
Ông Nguyễn Thành Trung và khoảnh rừng trồng của gia đình hiện đang tranh chấp.

Trong quá trình tố tụng, phía bị đơn luôn khẳng định đây là đất của gia đình tự khai hoang trồng mì từ năm 1978 và bị Lâm trường Hoài Nhơn ngang nhiên chiếm lấy để trồng rừng vào năm 1991. Vì vậy, khi Lâm trường chuyển đổi thành Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoài Nhơn và đến năm 2011, UBND huyện Hoài Nhơn có Quyết định giao lại 307,5 ha rừng sản xuất cho UBND xã Hoài Đức quản lý, họ mới tiến hành phát dọn thực bì trên diện tích 1,5 ha đất cũ để xuống giống keo lai. Việc làm này phù hợp với ý kiến của ông Phạm Trương, Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Nhơn từng phát biểu trước cuộc họp dân: “Cho phép dân Diễn Khánh nhận lại đất của mình đã khai hoang trước đây để sản xuất”.

Tuy nhiên, cả hai cấp tòa đều dựa trên cơ sở “Hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp để bảo vệ và phát triển rừng” được Lâm trường Hoài Nhơn và bà Nguyễn Thị Ái Vy ký kết ngày 06/3/2002 cộng với chủ trương không giải quyết đối với các trường hợp đòi lại đất cũ của UBND xã Hoài Đức để bác bỏ nguyện vọng của các bị đơn.

Bằng phán quyết trên, hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm như tỏ rõ sự công minh, khách quan trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được cơ quan nhà nước giao đất là bà Vy. Đồng thời ngăn chặn hành vi xâm phạm sở hữu bất hợp pháp của năm hộ dân ở thôn Diễn Khánh.

Nhưng đi sâu tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy vụ việc không đơn giản như vậy. Vì “một nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì nhưng một nửa sự thật thì không phải là sự thật”. Có nhiều tình tiết quan trọng đã không được truy nguyên, đề cập đến trong hai bản án này, nhất là bản án phúc thẩm.

Đơn cử như việc phải giải mã nghi vấn vì sao Lâm trường Hoài Nhơn tiến hành giao đất trồng rừng theo chương trình PAM (một chương trình có sự hỗ trợ vật tư, cây giống, tài chính cho người trồng rừng – PV) từ năm 1992 nhưng đến năm 2002 mới ký kết hợp đồng giao khoán với bà Nguyễn Thị Ái Vy, trong khi bà Vy là một giáo viên? Việc ông Lê Ngọc Anh được bà Vy ủy quyền tham gia suốt quá trình khiếu nại và tố tụng có gì bất thường hay không ?

Theo thông tin chúng tôi thu thập, trong 66 hộ, cá nhân nhận trồng rừng chương trình PAM vào năm 1992-1993, có khá nhiều trường hợp là cán bộ, công nhân công tác tại Lâm trường Hoài Nhơn. Một số người sau đó đã tự chuyển nhượng cho người khác và để hợp thức hóa, Lâm trường có chủ trương làm lại hợp đồng với người nhận chuyển nhượng. Hai thửa đất tại lô C9, C10 – khoảnh 6 – tiểu khu 106 nằm trong trường hợp này, năm 1992 được giao cho ông Lữ Ngọc Chính và ông Mai Thanh Quang (đều là cán bộ Lâm trường). Đến năm 2002 mới chuyển nhượng lại cho bà Vy.

Và theo lời một số nhân chứng, cách đây vài năm, bà Vy đã sang nhượng cả hai thửa này cho ông Lê Ngọc Anh trọn quyền sử dụng, sản xuất. Vì vậy nên ông Anh phải “đứng mũi chịu sào” suốt quá trình tham gia tố tụng, còn việc bà Vy ủy quyền chẳng qua là bức bình phong che đậy. Ngoài bà Vy, ông Anh còn nhận sang nhượng của nhiều người khác và hiện đang nắm giữ một diện tích đất rừng khá lớn qua các đợt mua bán.

Tại khoản 2, Điều 30 và khoản 2, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Không được chuyển quyền sử dụng đất trong trường hợp đất giao cho các tổ chức mà pháp luật quy định không được chuyển quyền sử dụng. Thủ tục chuyển quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại UBND huyện”. Và tại khoản 1, Điều 106 của Luật Đất đai năm 2003 cũng nêu rõ người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận QSD đất. Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Chính, ông Quang, bà Vy, ông Anh là trái quy định pháp luật.

Mặt khác, Bản án dân sự phúc thẩm số 99/2013/DS-PT tuyên xử cho bà Vy được sử dụng 520 cây keo, bạch đàn của năm hộ dân đã trồng trên đất vào năm 2011 và phải trả lại cho họ số tiền 4.255.600 đồng là bất hợp lý.

Căn nhà tường nứt, mái dột của ông Phạm Văn Tàu.
Căn nhà tường nứt, mái dột của ông Phạm Văn Tàu.

Bởi lẽ, Tòa án cấp phúc thẩm thừa nhận số cây trồng trên đất là của năm hộ dân nhưng lại giao số cây này cho bà Vy sử dụng và buộc bà Vy phải thanh toán giá trị cây trồng mà không có sự đồng ý của hai bên là không thuyết phục. Hơn thế, theo quan sát của chúng tôi tại hiện trường, số lượng keo, bạch đàn sống và phát triển tốt trên diện tích đất này ít nhất phải còn hơn 2000 cây. Như vậy, ngoài 520 cây chuyển giao cho bà Vy, số cây còn lại sẽ được giải quyết như thế nào, đó là điều Bản án phúc thẩm đã không tính đến.

Người trồng rừng “rưng rưng nước mắt”

Thực tế cho thấy, sau khi bị Lâm trường Hoài Nhơn lấy đất vào năm 1991, nhiều hộ dân tại thôn Diễn Khánh chỉ còn mấy sào ruộng để sản xuất, không còn đất rừng, đất rẫy. Cho nên họ mới “khát” đất và mong muốn được tái sử dụng đất cũ, dù diện tích này chẳng đáng là bao.

Vì vậy họ đã tận dụng mọi cơ hội có thể để được quay lại canh tác trên đất cũ và chỉ trồng rừng sản xuất theo quy hoạch. Nhưng không phải mọi việc lúc nào cũng dễ dàng suôn sẻ. Như trường hợp của ông Phạm Văn Tàu cùng ở thôn Diễn Khánh.

Theo như ông Phạm Văn Tàu cho biết: từ năm 1976, gia đình ông đã tự khai hoang một thửa đất rẫy khoảng 3000m2 để trồng mì, sau đó bị Lâm trường Hoài Nhơn chiếm lấy vào năm 1991. Đến năm 2004, thấy thửa đất này bỏ hoang không người sử dụng, ông Tàu phát dọn lại trồng keo, bạch đàn. Năm 2012, Ban Quản lý dự án điện miền Trung thi công lưới điện trên địa bàn, tuyến dây kéo qua đất ông Tàu và theo chủ trương, đương nhiên ông được hưởng tiền đền bù giải phóng mặt bằng đối với diện tích đất, cây trồng bị thiệt hại. Nhưng lúc này, ông Đặng Nhớ, người nhận đất trồng rừng của Lâm trường giáp giới phía trên lại ra mặt tranh chấp phần diện tích được đền bù với ông Tàu.

Lẽ ra, phải xác định rõ ai là người đang sử dụng đất và được thụ hưởng tiền đền bù (vì đó là trách nhiệm thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương). Đằng này, UBND xã Hoài Đức lại chọn giải pháp tạm giữ số tiền đền bù trong lúc Ban Quản lý dự án vẫn tiến hành thi công. Ngoài ông Tàu, còn có bốn trường hợp khác cũng lâm hoàn cảnh tương tự.

Việc làm này biểu hiện sự lạm quyền, độc đoán của chính quyền địa phương khiến nhiều người bất bình. Bản thân ông Tàu đã nhiều lần gởi đơn khiếu nại đến các cấp có thẩm quyền. Nhưng thay vì nhận lỗi, sửa sai, UBND xã Hoài Đức lại tìm đủ mọi cách bao biện, chống chế.

Quan xã “nói một đàng làm một nẻo” ?

Tiếp xúc với chúng tôi, nhiều hộ dân thôn Diễn Khánh vẫn còn ấm ức việc Lâm trường Hoài Nhơn ngang nhiên lấy đất họ đang canh tác vào năm 1991 để phân chia cho các đối tượng khác với danh nghĩa trồng rừng.

Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo UBND xã Hoài Đức. Ông Phạm Văn Thắm, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết chủ trương của xã vẫn để các hộ đã nhận khoán với Lâm trường trước đây được tiếp tục sử dụng đất. Và theo phương án sử dụng 307,5 ha đất rừng sản xuất đã được huyện phê duyệt từ tháng 4/2011 thì sẽ có sự điều chỉnh cục bộ một số diện tích để giao cho những hộ khó khăn không có đất sản xuất. Đồng thời, đối tượng được giao đất phải là người có hộ khẩu thường trú tại xã Hoài Đức, có nguồn sống chính bằng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Về việc nhiều hộ dân bị Lâm trường thu đất vào năm 1991 nhưng không được nhận đất trồng rừng, ông Thắm xác quyết là do các hộ đó không chịu nhận vì ngại khó, sợ khổ nên Lâm trường mới phải tìm người khác để giao.

Tương tự, ông Hoàng Quốc Việt – Chủ tịch UBND xã Hoài Đức cũng khẳng định hùng hồn rằng sẽ kiểm tra, rà soát những trường hợp được giao đất không chính đáng để điều chính, giao lại cho dân. Nhưng khi chúng tôi hỏi UBND xã có thành lập ban chỉ đạo để điều hành công tác quan trọng này không thì ông Việt lúng túng trả lời hình như trước đây có thành lập, có quyết định giao ông Thắm làm tổ trưởng. Về tiến độ công việc, ông Việt cho biết vẫn đang trong quá trình rà soát, chưa điều chỉnh trường hợp nào. Còn việc tranh chấp đất giữa hai hộ ông Phạm Văn Tàu và ông Đặng Nhớ, xã đã mời lên hòa giải nhưng không thành nên đã hướng dẫn hai bên khởi kiện ra tòa (!?)

Tuy nhiên khi làm việc với PV, ông Đỗ Xuân Mai – Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Hoài Nhơn xác nhận, tuy đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, đất rừng cho UBND xã Hoài Đức nhưng với trách nhiệm chuyên môn, mỗi khi có phát sinh vướng mắc xã vẫn mời Ban Quản lý rừng và Kiểm lâm cùng phối hợp tháo gỡ. Chẳng hạn như trường hợp tranh chấp giữa ông Tàu và ông Nhớ. UBND xã Hoài Đức đã mời Ban Quản lý rừng và đại diện Kiểm lâm cùng các ban ngành của xã lên tận hiện trường kiểm tra, xác định cụ thể. Kết quả cho thấy ông Tàu chỉ làm trên phần đất trước đây Lâm trường giao cho hai hộ nhận khoán nhưng vì những hộ này không thanh toán lại chi phí trồng rừng nên không được nhận hợp đồng. Do vậy họ mới bỏ hoang và ông Tàu tiếp tục phục hóa trồng lại keo, bạch đàn. Còn thửa đất của ông Nhớ nằm phía trên, có ranh giới rõ ràng, diện tích vẫn đủ nên việc ông tranh chấp với ông Tàu là không đúng.

Căn cứ theo trình bày của ông Việt, ông Thắm thì năm hộ dân trong vụ án trên đây lẽ ra phải được chính quyền cân đối, điều chỉnh để gia đình họ được nhận lại đất rừng sản xuất. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Bởi sự trì trệ của UBND xã trong việc quản lý diện tích rừng trồng được bàn giao, trong khi đây là lĩnh vực hết sức nhạy cảm. Kèm theo đó là cách hành xử tùy tiện, đùn đẩy trách nhiệm của các “quan xã”.  Đó chính là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Và khi xét xử, các cấp tòa lại thiếu sâu sát, không đào sâu tận cùng sự việc dẫn đến những phán quyết không thật sự thuyết phục. Để cuối cùng những người nông dân một đời gắn bó với đất đai phải chịu cảnh nhìn đất rừng mà “rưng rưng nước mắt”.

Được biết, năm hộ dân trong vụ án này đã làm đơn đề nghị xem xét Bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm. Mong rằng TAND tối cao và Viện KSND tối cao sẽ tạo điều kiện giúp đỡ cho họ được tiếp tục canh tác trên thửa đất gia đình đã đổ bao công sức khai hoang từ mấy chục năm trước./.

DUY THÁI

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *