Hậu thi hành án và những kiến giải từ thực tế (Bài 2): Hệ lụy từ những sai sót của một bản án

(Pháp lý) – Xác định sai tư cách các đương sự, xác định sai nội dung vụ việc, nêu căn cứ pháp lý không chính xác, ghi sai lỗi chính tả,….là một trong vô số những sai sót từ phía Tòa án khiến cho Bản án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không được gây thiệt hại lớn về quyền và lợi ích hợp pháp cho người được thi hành án.

>>(Bài 1) Bản án không được thi hành hoặc không thi hành được: Vì đâu nên nỗi?

Vụ án “tranh chấp hợp đồng tín dụng”  giữa nguyên đơn Ngân hàng NN&PTNT Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa với bị đơn Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1978 tại xóm 8, xã Vĩnh Minh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Cao Thị Nghiên, bà Nguyễn Thị Ngọc; ông Nguyễn Văn Minh, ông Nguyễn Văn Tân là một trong nhiều vụ việc không thể thi hành bản án do những sai sót trên của Tòa án.

Sai sót do xác định sai tư cách đương sự

Ngày 02/12/2008 anh Thành (người đại diện chủ hộ) và Ngân hàng NN&PTNT Vĩnh Lộc ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 132808T/HĐBĐ. Hợp đồng có chữ ký của các đồng sở hữu: chị Nghiên, ông Minh, bà Ngọc, anh Tân.

Ngày 09/12/2008 Anh Nguyễn Văn Thành và Ngân hàng NN&PTNT Vĩnh Lộc ký hợp đồng tín dụng số 132808T/HĐTD tại Ngân hàng NN&PTNT Vĩnh Lộc.

Ngày 03/12/2008 anh Thành và Ngân hàng NN&PTNT Vĩnh Lộc ký hợp đồng thế chấp tài sản là tàu sông số 13282008T/HĐBĐ. Hợp đồng có chữ ký của các đồng sở hữu: chị Nghiên, ông Minh, bà Ngọc, anh Tân.

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng tiền vay anh Thành đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. Đến nay anh Thành còn nợ Ngân hàng NN&PTNT Huyện Vĩnh Lộc 348.000.000 đồng là khoản vay đã quá hạn từ ngày 08/12/2011 và lãi trong hạn.

Do đó, Ngân hàng NN&PTNT huyện Vĩnh Lộc với tư cách là nguyên đơn đã đưa vụ việc ra tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa để kiện anh Nguyễn Văn Thành và những người liên quan chịu trách nhiệm chi trả khoản tiền trên.

Ngày 25/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc đưa vụ án ra xét xử và ra Bản án số 01/2013/KDTM-ST. Theo nội dung bản án có quyết định: Bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Văn Minh, ông Nguyễn Văn Tuấn không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án do những người này không có tên trong sổ hộ khẩu gia đình anh Thành và cũng không phải là đồng sở hữu quyền sử dụng mảnh đất và tài sản gắn liền trên đất – đối tượng của hợp đồng thế chấp số 132808T/HĐBĐ; Buộc anh Nguyễn Văn Thành thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng NN&PTNT huyện Vĩnh Lộc với tổng số nợ là 616.031.929đ; Tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 132808T/HĐBĐ là Hợp đồng vô hiệu phần tài sản chung của chị Cao Thị Nghiên trong khối tài sản chung giữa chị và anh Nguyễn Văn Thành. Mặc dù hình thức của hợp đồng đúng theo quy định của pháp luật nhưng nội dung thì không đúng. Vì bà Nguyễn Thị Ngọc, ông Nguyễn Văn Minh, anh Nguyễn Văn Tuấn không phải là chủ sở hữu tài sản và cũng không có hộ khẩu thường trú tại gia đình anh Thành nhưng lại ký vào Hợp đồng thế chấp là không đúng pháp luật; Chị Nghiên là chủ sở hữu tài sản nhưng lại bị giả mạo chữ ký trong hợp đồng. Phần tài sản của anh Thành đã thế chấp cho Ngân hàng NN&PTNT huyện Vĩnh Lộc có hiệu lực thi hành như đã cam kết trong Hợp đồng thế chấp.

Theo quan điểm của chúng tôi, những lý do làm cho bản án số 01/2013/KDTM-ST không thể thi hành đó là do sai sót trong việc xác định tư cách đương sự tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 13282008/HĐBĐ: Đối tượng của hợp đồng là: Tàu sông mang BKS 498/ĐK có trị giá 600.000.000 đồng. Tài sản thế chấp thuộc sở hữu chung của những người sau: Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Ngọc, Nguyền Văn Tân, Nguyễn Văn Thành, Cao Thị Nghiên. Hợp đồng thế chấp nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký.

Vì ông Minh, bà Ngọc, anh Thành, anh Tân và chị Nghiên là đồng sở hữu tàu sông BKS 498/ĐK nên căn cứ Khoản 4-Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì ông Minh, bà Ngọc, anh Tân, chị Nghiên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tranh chấp về hợp đồng tín dụng số 132808T/HĐTD giữa anh Thành và Ngân hàng NN&PTNT.

Nhưng Bản án số 01/2013/KDTM-ST do TAND huyện Vĩnh Lộc đã tuyên ông Minh, bà Ngọc, anh Tân không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Vậy, quyết định này của TAND huyện Vĩnh Lộc không phù hợp với quy định của BLTTDS.

Ngoài ra, dù khẳng định ông Minh, bà Ngọc, anh Tân  không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án song phần Quyết định của Bản  án số 01/2013/KDTM-ST lại quyết định ông Minh, bà Ngọc, anh Tân  được quyền kháng cáo bản án. Quyết định này không phù hợp với quy định tại Điều 243 BLTTDS về người có quyền kháng cáo.

 Và hàng loạt sai sót khác…

Hợp đồng tín dụng số 132808T/HĐTD được ký giữa anh Thành và ngân hàng NN&PTNT. Kèm theo hợp đồng này là các hợp đồng phụ như Hợp đồng số 132808T/HĐBĐ và Hợp đồng số 13282008T/HĐBĐ. Theo Điều 122, Điều 127 BLDS 2005 thì cả hai Hợp đồng số 132808T/HĐBĐ và Hợp đồng số 13282008T/HĐBĐ sẽ bị vô hiệu toàn bộ do chị Nghiên – người tham gia giao dịch không tự nguyện (bị giả mạo chữ ký). Tuy nhiên, căn cứ Khoản 3 Điều 410 BLDS 2005 thì “sự vô hiệu Hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính…”. Như vậy Hợp đồng tín dụng số 132808T/HĐTD ký giữa anh Thành và ngân hàng NN&PTNT không bị vô hiệu. Tòa xác định hợp đồng chính cũng vô hiệu .

Mặt khác, căn cứ Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về “trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”, Do vậy, chị Cao Thị Nghiên và anh Nguyễn Văn Thành phải chịu trách nhiệm liên đới đối với Hợp đồng tín dụng số 132808T/HĐTD, tức là chị Nghiên và anh Thành có nghĩa vụ liên đới trong việc trả khoản nợ 616.031.919đ cho Ngân hàng NN&PTNT huyện Vĩnh Lộc.

Đồng thời vợ chồng anh Thành và chị Nghiêm có quyền sử dụng mảnh đất 115m2 và tài sản gắn liền với đất do vợ chồng anh Thành đứng tên sở hữu. Nếu quyền sử dụng mảnh đất 115m2 và tài sản gắn liền với đất do vợ chồng anh Thành đứng tên sở hữu chưa đủ để trả cho số nợ của vợ chồng anh Thành thì sẽ xử lý cả phần vốn mà vợ chồng anh Thành đã góp chung để đóng(mua) tàu sông BKS 498/ĐK để trả nợ cho ngân hàng mới hợp lý.

Do những sai sót trên nên Bản án số 01/2013/KDTM-ST khó có thể được thi hành vì bởi nếu thi hành bản án này thì sẽ gây ra thiệt hại cho Ngân hàng NN&PTNT huyện Vĩnh Lộc và không đảm bảo được sự công bằng của pháp luật.

Kết mở

Việc ra một bản án thế này sẽ làm cho bên cơ quan thi hành án vô cùng khó thực thi và nếu trong trường hợp cơ quan thi hành án cố gắng thực hiện thì hậu quả và sự thiệt hại của các đương sự trong vụ án này sẽ do ai bồi thường? Từ thực tế trên, dư luận đặt câu hỏi: do năng lực trình độ pháp luật của Thẩm phán xét xử vụ việc này có vấn đề hay còn một nguyên nhân khó lý giải nào khác…?

(Còn nữa…)

Nguyễn An

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *