Những “nữ nhà báo đặc biệt” trong giai đoạn đầu thế kỷ 20

(Pháp lý) – Nền báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả và có vai trò quan trọng trong dòng chuyển lưu lịch sử báo chí dân tộc. Ngay tại thời điểm đó, phụ nữ cũng đã bắt đầu tham gia viết báo, làm báo. Những chuyên mục về nữ giới của các tờ báo và sự xuất hiện của những nhà báo nữ đã đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của phái nữ để khẳng định quyền bình đẳng bấy lâu nay bị kìm hãm bởi những quan niệm khắt khe, hủ tục. Nhìn lại một thế kỷ trước qua lăng kính đã phủ bụi thời gian, không ít người còn trầm trồ ngợi khen sự sắc sảo, tài hoa của những “nữ nhà báo đặc biệt” này.

1. Sương Nguyệt Anh, nhà báo, thi sĩ, nữ chủ bút đầu tiên của Việt Nam

Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Xuân Khuê sinh ngày 8/3/1864 tại Ba Tri (Bến Tre). Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, sinh ra vào thời kỳ nhà thơ về Bến Tre nương mình chạy giặc. Xuất thân từ một gia đình có học thức, được người cha tài giỏi bồi dưỡng, có người mẹ phẩm hạnh hết lòng yêu thương, từ bé cô gái Xuân Khê đã nổi danh tài sắc, bản lĩnh hơn người. Nhưng cuộc đời lắm nỗi truân chuyên, năm 24 tuổi bà xuất giá, được vài năm thì chồng chết, bà ở vậy nuôi đứa con gái bé dại. Lúc này cha mẹ đều đã qua đời, xót phận mình đơn độc, người góa phụ Xuân Khuê điểm thêm một chữ “Sương” trước tên hiệu “Nguyệt Anh” là bởi thế…

 Nhà báo, thi sĩ Sương Nguyệt Anh

Nhà báo, thi sĩ Sương Nguyệt Anh

 

Tiếp nối truyền thống yêu nước của người cha, Sương Nguyệt Anh luôn sẵn lòng ủng hộ những bậc hào kiệt nuôi hoài bão giải phóng dân tộc. Khi nhà chí sĩ Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du, bà nhiệt tình hưởng ứng, bán cả đất vườn lấy tiền đóng góp cho du học sinh sang Nhật học tập. Phong trào bị đàn áp rồi thất bại, bà vẫn tiếp tục góp sức vào công cuộc cứu nước, mong muốn một tương lai tươi sáng cho dân tộc mình.

Năm 1917, nhận lời mời của một nhóm chí sĩ ái quốc, Sương Nguyệt Anh đứng ra làm chủ bút tờ báo Nữ Giới Chung (tiếng chuông của nữ giới). Đây là tờ báo đầu tiên của phụ nữ Việt Nam, tòa soạn đặt tại số nhà 15 đường Taberd, Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Du, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 1/2/1918, tờ báo ra số đầu tiên và bà chính thức trở thành nữ chủ bút đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Báo phát hành định kỳ vào ngày thứ Sáu hàng tuần, với 18 trang nội dung, 8 trang quảng cáo với các chuyên mục xã thuyết, văn nghệ, dạy gia chánh, học nghề, cùng các trang cách ngôn, lời hay ý đẹp và mẹ con nói chuyện. Có thể nói Nữ Giới Chung là tờ báo đầu tiên ở nước ta chú trọng đến việc dạy nữ công, đức hạnh phụ nữ và phê phán luật lệ khắt khe đối với nữ giới, đồng thời chủ trương đấu tranh mạnh mẽ cho vấn đề bình đẳng giới. Suốt hơn hai chục số báo, bà dành trọn tâm huyết để góp phần chấn hưng tinh thần nữ giới nước nhà, thức tỉnh, cổ vũ phái nữ trước thời thế mới, làm phong phú, hoàn thiện thêm nền báo chí non trẻ của Việt Nam. Đồng thời tạo tiền đề cho hàng loạt tờ báo phụ nữ sau này như Phụ Nữ Tân Văn, Phụ Nữ Thời Đàm… Tầm ảnh hưởng ngày một lớn của tờ báo đã khiến chính quyền thực dân dè chừng và chúng đã bắt đình bản tờ báo vào tháng 7/1918. Sương Nguyệt Anh về lại Ba Tri, theo gương cha ngày trước, tiếp tục dạy học, bốc thuốc và sáng tác thơ văn cho tới ngày tạ thế (20/01/1921).

Ngoài tham gia điều hành, viết báo, bà Sương Nguyệt Anh còn là một thi sĩ tài năng. Thuộc thế hệ nhà thơ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, bà làm thơ bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và Quốc ngữ. Với vốn ngôn ngữ phong phú, chiều sâu chiêm nghiệm, giọng thơ trầm thiết, tràn trề nỗi niềm nhân thế trong sự cảm thông sâu sắc, nữ thi sĩ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị.

Dù chỉ tồn tại trong khoảng thời gian 5 tháng nhưng Nữ Giới Chung thực sự là tiếng chuông ngân vang và hình ảnh một Sương Nguyệt Anh tài sắc bản lĩnh còn sống mãi trong lòng các thế hệ mai sau. Ngày nay, tên bà được đặt cho nhiều đường phố, trường học, câu lạc bộ… với niềm trân trọng, tự hào sâu sắc.

2. Đạm Phương nữ sử, thi sĩ, nhà báo, người thành lập đoàn thể phụ nữ đầu tiên của Việt Nam

Những năm đầu của thế kỷ 20 từng xảy ra những đổi thay hiếm hoi, kỳ lạ của thân phận người phụ nữ Việt. Từ cuộc sống quẩn quanh xó bếp, hiên nhà, họ đã vươn tới hoà nhập xã hội bằng những công việc mà trước đó chỉ dành cho nam giới. Trong đó có Đạm Phương nữ sử, một người đức hạnh, tinh tuệ đầy tài năng. Bà tên thật là Công Tôn Nữ Đồng Canh sinh năm 1881, con gái của Hoằng Hóa Quận Vương (hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng), mẹ của nhà văn Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn), bà nội của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

Chân dung của Đạm Phương nữ sử
Chân dung của Đạm Phương nữ sử

 

Năm 1918, bút danh Đạm Phương nữ sử xuất hiện đều trên các trang báo hai miền Nam – Bắc. Thời gian này, bà còn đảm nhận chuyên mục Lời đàn bà trên báo Thực Nghiệp. Từ năm 1919 đến năm 1928, bà làm trợ bút cho báo Trung Bắc Tân Văn và giữ chuyên mục Văn đàn bà trên tờ này. Các tác phẩm báo chí của bà phần lớn hướng vào người phụ nữ, hàng loạt bài báo mang tính giáo dục, nhấn mạnh đến bổn phận, nghĩa vụ, lương tâm và trách nhiệm của con người. Bà không ngần ngại kêu gọi, thúc đẩy nữ lưu đương thời mạnh dạn lao vào con đường học tập để có một nghề nghiệp, đồng thời phải hiệp lực để cho ra đời một tổ chức xã hội nhằm đoàn kết mọi tầng lớp phụ nữ cùng phấn đấu để tiến bộ, tạo được chỗ đứng bình đẳng trong xã hội còn nặng ý thức “trọng nam khinh nữ”. Trong bài “Muốn cho nữ lưu biết chức nghiệp phải có học hội nữ công”, đăng trên tờ Trung Bắc Tân Văn năm 1926, bà viết: “Nước mình đàn bà con gái không phải không có óc thông minh, cũng không phải không có tài năng song không biết cách cùng nhau mà mưu sự nghiệp hạnh phúc chung, làm cho sự nghiệp về đường nữ công là cái phận sự của mình, phải nên chăm chút để gây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới mong mở mặt mở mày với người ta”.

Nói là làm, năm 1926, Đạm Phương đã sáng lập Nữ Công Học Hội, có tôn chỉ, mục đích, nội quy rõ ràng, chương trình hoạt động bài bản. Bà trực tiếp làm Hội trưởng, vận động, diễn thuyết nâng cao uy tín và tầm ảnh hưởng, đưa hội ngày càng phát triển, thu hút được nhiều bậc chí sĩ hưởng ứng, tham gia như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Nguyễn Lãm… Trên thực tế, Nữ Công Học Hội là đoàn thể phụ nữ đầu tiên ở nước ta, hướng nghiệp và tranh đấu cho nữ quyền những năm đầu thế kỷ này, khiến mọi người phải nhìn nhận lại vai trò của người phụ nữ trong xã hội mới.

Ngoài viết báo, Đạm Phương nữ sử còn là tác giả của nhiều tác phẩm có giá trị: Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình, Nữ công thường thức (3 tập), Kim Tú Cầu (tình sử), Hồng phấn tương tri (truyện dài), Đạm Phương thi văn tập… và những tác phẩm dịch, như: Gái trinh liệt, Gia đình giáo dục đàm (Trung Quốc), Dưỡng trẻ em, Trường con trẻ (Pháp), Vườn trẻ con (Đức), Nhà trẻ con (Ý)…

Suốt đời cống hiến cho sự nghiệp báo chí, đấu tranh bênh vực quyền bình đẳng nữ giới, đến năm 1947 bà mất, để lại nỗi tiếc thương và lòng kính ngưỡng của bao người. Gần đây, tuyển tập Đạm Phương nữ sử được Lê Thanh Hiền sưu tầm, biên soạn, giới thiệu; Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa và được NXB Văn học ấn hành vào tháng 12/2010. Tuyển tập đã tái hiện chân dung một nữ tác giả dẫn đầu về số lượng tác phẩm với nhiều thể loại xuất bản trước năm 1945; đặc biệt quan tâm đến nữ quyền, bồi dưỡng kiến thức người mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con trẻ từ lúc lọt lòng đến khi cắp sách tới trường… Hiện vẫn còn rất nhiều người mẹ tìm đọc các tác phẩm của bà để học hỏi kinh nghiệm trong tu dưỡng đức hạnh, dạy dỗ con cái.

3. Nhà báo Nguyễn Thị Manh Manh, nữ chiến tướng tiên phong trong phong trào Thơ mới

Nữ sĩ tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, sinh ngày 03/01/1914 tại Sài Gòn, nhưng quê quán của bà ở Gò Công (nay thuộc Tiền Giang). Bà là con gái thứ của Tri huyện Nguyễn Đình Trị, tục danh Huyện Trị, cũng là một cây bút trong làng báo lúc bấy giờ.

Thuở nhỏ bà học ở trường Áo Tím, tức Trường nữ Gia Long (Sài Gòn). Khoảng năm 1931-1932, bà tốt nghiệp bằng Thành Chung ban sư phạm, được giữ lại trường giảng dạy. Vừa dạy học vừa tham gia viết báo, bà thường xuyên cộng tác với tờ Phụ Nữ Tân Văn (tờ nữ báo số 2 sau tờ Phụ Nữ Chung do bà Nguyễn Đức Nhuận sáng lập) và lần lượt viết cho các tờ báo khác như: Công Luận, Nữ Lưu, Tuần Lễ Nay…

Nữ nhà báo tài hoa Nguyễn Thị Manh Manh
Nữ nhà báo tài hoa Nguyễn Thị Manh Manh

 

Đầu năm 1932, nhà văn Phan Khôi đề xướng Phong trào Thơ mới với bài thơ “Tình già” lần đầu xuất hiện trên văn đàn khiến giới văn chương có nhiều ý kiến trái chiều. Hưởng ứng, nữ sĩ Manh Manh gửi thơ của mình đăng trên tờ Phụ Nữ Tân Văn, đồng thời viết nhiều bài báo và đăng đàn diễn thuyết ủng hộ phong trào Thơ mới. Nổi tiếng nhất có bài: Về lối thơ mới, diễn thuyết ở Hội Khuyến học Sài Gòn ngày 26/7/1933 (Phụ Nữ Tân Văn, số 211, ngày 10/8/1933; số 213 ngày 24/8/1933) đã tạo tiếng vang lớn.

Không chỉ bảo vệ Thơ mới, nữ sĩ Manh Manh còn kịch liệt phản đối những bất công trong xã hội đương thời như phân biệt nam nữ. TS. Phan Văn Hoàng viết: “Chị đả kích các tập tục hủ bại như trọng nam khinh nữ, tảo hôn, đa thê…, bênh vực những quyền lợi chính đáng của nữ giới. Trong năm 1934, chị đã đi tới 4 thành phố (Huế, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng) để diễn thuyết các đề tài: “Dư luận nam giới đối với phụ nữ tiên tiến”, “Một ngày của một người đàn bà tiên tiến”, “Có nên tự do kết hôn chăng?”, “Nên bỏ chế độ đa thê không”? Ý tưởng của chị trong các buổi diễn thuyết đó đã tạo ra trong xã hội hai luồng dư luận trái chiều (tán thành và phản đối) phản ánh qua báo chí trong Nam ngoài Bắc…”

Năm 1936, nữ sĩ Manh Manh tích cực tham gia phong trào Đông Dương đại hội. Tuy mới 22 tuổi, nhưng bà là một trong hai phụ nữ được cử vào Ủy ban lâm thời tổ chức Đông Dương đại hội tại Sài Gòn, bên cạnh các nhân vật nổi tiếng thời đó như Nguyễn An Ninh, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu… Nữ sĩ còn tham gia vào hoạt động chống Pháp. Trong cuốn Hồi ký 1925-1964, tập 2 (1945-1954), nhà văn, nhà báo Nam Đình Nguyễn Thế Phương có kể chuyện Manh Manh đi rải truyền đơn chống Pháp nhưng không nói rõ của tổ chức nào.

Nguyễn Thị Manh Manh đã để lại tổng cộng 10 bài thơ mới, đó là: Viếng phòng vắng, Thơ gửi cho em Vân, Mộng du, Canh tàn, Lá rụng, Sa đà, Hai cô thiếu nữ, Bức thư gửi cho tất cả ai ưa hay là ghét lối thơ mới. Một bài thơ mới gửi riêng cho các anh ghiền: Bà Lafugie – nhà thám hiểm và họa sĩ, Đêm khuya qua Xuân Lộc. Đặc biệt là loạt bài du ký: Cuộc hành trình từ Nam ra Bắc, Hà Nội với mấy cái cảm tưởng đầu (Phụ Nữ Tân Văn số ra ngày 25/10/1934, 8/11/1934, 13/12/1934), Dưới chân đèo Cả (Phụ Nữ Tân Văn số 252/ 1934). Bên cạnh đó bà còn nhiều phóng sự trên báo Phụ Nữ Tân Văn, Nữ lưu…

Hồng nhan đa truân, tài hoa sắc sảo nhưng hạnh phúc riêng tư của nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh nhiều xót xa nghiệt ngã. Cuối năm 1937, nữ sĩ thành hôn với Trương Tuấn Cảnh, người Hà Tiên, một nhà giáo dạy Việt văn ở trường Trung học Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn, đồng thời là một nhà báo với bút hiệu Lư Khê, một trong “tứ kiệt” ở Hà Tiên được mọi người xưng tụng cùng các danh sĩ Đông Hồ, Mộng Tuyết và Trúc Hà.

Theo lời kể của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt (em út Lư Khê, gọi nữ sĩ Manh Manh là chị dâu): “Chị (Manh Manh) cư xử với nhà chồng rất tốt, được bên chồng yêu quý. Chị là thứ nữ của ông Huyện Trị, còn anh Lư Khê là con nhà nghèo ở Rạch Vược (Hà Tiên)… Song, chị không hợm mình, lúc nào chị cũng quý trọng người nghèo rất thật tình, không màu mè, không phân biệt giai cấp. Chị thường viết báo hoặc diễn thuyết bênh vực dân nghèo… Khi sinh bé Mi Nu, chị Kiêm bị sự cố không may, mất khả năng sinh sản. Năm sau, bé Mi Nu (bị liệt từ lúc mới sinh) qua đời, chị Kiêm vô cùng buồn, chị thỏa thuận cho anh có người khác… Đầu năm 1945, trước ngày Nhật đảo chính Pháp, anh Lư Khê có người vợ thứ hai. Khoảng đầu năm 1950, chị Manh Manh đi Pháp. Bên ấy chị được tin anh Lư Khê qua đời. Anh bị ám sát ngày 3/7/1950. Thời kỳ này ở Sài Gòn rất nhiễu nhương”.. Sau khi rời khỏi Việt Nam, nữ sĩ một thời sôi nổi nhiệt thành đã “bặt vô âm tín” trong suốt thời gian dài. Hơn 50 năm sau, vào ngày 26/01/2005, bà qua đời trong một nhà dưỡng lão ở Paris, bỏ lại quãng đời thăng trầm với bao được mất…

Tất cả những “nữ nhà báo đặc biệt” này đều đã yên nghỉ dưới nấm mộ xanh, nhưng những gì họ đã làm được trong giai đoạn ấy thật đáng trân quý. Họ đã cống hiến hết mình cho nền báo chí trong buổi đầu “tượng hình”, dành sự quan tâm đặc biệt cho thân phận người phụ nữ, kiên quyết đấu tranh đòi lẽ bình quyền. Hậu thế sẽ mãi mãi khắc ghi những đóng góp lớn lao của họ trong dòng chảy chung của báo chí cách mạng Việt Nam.

Văn Phi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *