Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1915-2015): Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và sự nghiệp Đổi mới

(Pháp lý) – Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra đường lối Đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở đó lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, chủ động, khôn khéo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn, có lúc hiểm nghèo, tiến hành công cuộc đổi mới thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

Những đóng góp to lớn và quan trọng

Đồng chí Nguyễn Văn Linh, tên thật là Nguyễn Văn Cúc, sinh ngày 1/7/1915, tại xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn (nay là huyện Yên Mỹ), tỉnh Hưng Yên. Xuất thân trong một gia đình yêu nước, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động cách mạng ở Hà Nội, Hải Phòng, bị địch 2 lần đày ra Côn Đảo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, được Đảng và Nhà nước đón từ Côn Đảo trở về, đồng chí tiếp tục tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ và gắn bó với đồng bào Nam Bộ trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ cho đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn khai mạc Đại hội VI (12/1986).
Đồng chí Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn khai mạc Đại hội VI (12/1986).

 

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng chí đã giữ nhiều trọng trách. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986), Đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tại Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng, đồng chí được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá VIII.

Đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu 3 điểm nổi bật trong quá trình hoạt động cách mạng của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong đó có việc đồng chí Nguyễn Văn Linh đã cùng với Trung ương có những đóng góp to lớn và quan trọng trong công cuộc Đổi mới đất nước.

Ngay từ khi làm Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nắm bắt thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm của một số cơ sở có cách làm sáng tạo để đề xuất với Trung ương nhiều chủ trương mới trong phát triển sản xuất, kinh doanh. Đến khi giữ trọng trách là Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi mới, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở đó lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, chủ động, khôn khéo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn, có lúc hiểm nghèo, tiến hành công cuộc đổi mới thu được những kết quả bước đầu rất quan trọng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

Qua đó, đã tạo dựng được lòng tin của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta vạch ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào năm 1991.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại loạt bài viết của đồng chí Nguyễn Văn Linh trong mục “Những việc cần làm ngay”, đăng trên báo Nhân Dân, ký tên N.V.L đã tạo ra một luồng sinh khí mới trong xã hội: Dân chủ, công khai, nói thẳng, nói thật, lời nói đi đôi với việc làm, đấu tranh chống tiêu cực, làm trong sạch bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một tấm gương mẫu mực về phẩm chất, đạo đức của người cộng sản. Suốt cuộc đời mình, đồng chí Nguyễn Văn Linh hết lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, gắn bó với nhân dân, hiểu dân, tin dân, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của dân, biết chắt lọc trí tuệ của nhân dân để đóng góp cho Đảng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân. Bằng thái độ chân thành, cởi mở, cách ứng xử khiêm tốn, tình nghĩa, trân trọng, lắng nghe ý kiến của các đồng chí khác, cho dù ý kiến đó trái với ý kiến của mình, đồng chí đã được đồng chí, đồng bào tin yêu, kính trọng.

Nhìn thẳng vào sự thật

Phân tích dưới góc độ lý luận, PGS.TS Phạm Hồng Chương (nguyên Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng) đánh giá: Trong lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, đồng chí luôn nhấn mạnh: Đảng phải nhìn thẳng vào sự thật, phải thấy thiếu sót chủ quan của chúng ta là nghiêm trọng và kéo dài; phải có tinh thần dũng cảm tự phê phán mạnh mẽ và triệt để để đổi mới. Không như thế, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài với những tai hoạ thật sự – những tai hoạ không phải do bản chất chế độ chúng ta gây ra mà là do khuyết điểm của chúng ta gây ra. Bởi vậy, để không mắc tiếp sai lầm, phải đổi mới tư duy và phong cách, vì “có thật sự đổi mới tư duy và phong cách mới hiểu được thực chất của hiện trạng, phân biệt rõ đúng sai, phát huy được nhân tố tiến bộ, gạt bỏ được những sai lầm. Từ đấy mở ra một trình độ mới trong việc nhận thức và vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin, khơi dậy được tính chủ động sáng tạo vô tận của nhân dân lao động, phát huy được tính ưu việt của CNXH để đưa đất nước tiến lên”.

Ông đã công khai trước công chúng Những việc cần làm ngay với hàng loạt bài đăng trên báo Nhân dân.
Ông đã công khai trước công chúng Những việc cần làm ngay với hàng loạt bài đăng trên báo Nhân dân.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Linh đặc biệt nhấn mạnh việc khai thác kho tàng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và học tập những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn cách mạng nước ta.

Cùng với việc thúc đẩy sự sáng tạo khoa học thông qua đổi mới tư duy lý luận của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh luôn quan tâm về việc Đảng ta phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự lãnh đạo để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã hội, xứng đáng niềm tin yêu và hy vọng của nhân dân.

Đồng chí khẳng định: “Sức mạnh, uy tín và chất lượng lãnh đạo của Đảng phu thuộc một phần quyết định ở việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả dân chủ trong Đảng và trong xã hội”, vì chỉ có đem lại dân chủ thực sự cho nhân dân và thông qua đó mới “phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của họ trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Bởi vậy, để phát triển dân chủ và ngăn chặn những biểu hiện cực đoan, vô nguyên tắc, nặng về đòi hỏi mở rộng dân chủ vô hạn độ, nhẹ về tôn trọng kỷ luật, kỷ cương và pháp luật, Đảng phải bổ sung, hoàn thiện và xây dựng mới các thiết chế và cơ chế dân chủ nhằm xác định quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau; đảm bảo thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ của công dân đã được ban hành; nghiêm trị những hành vi xâm phạm theo đúng pháp luật của nhà nước; củng cố về tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống thanh tra và kiểm tra; giáo dục và tuyên tuyền sâu rộng Hiến pháp và pháp luật trong các nhà trường và trong xã hội.

Theo đồng chí, “Để thực hiện dân chủ hoá xã hội, trước hết phải dân chủ hoá trong Đảng. Từ BCHTƯ, Bộ Chính trị, Ban bí thư cho đến các tổ chức đảng cơ sở phải là tấm gương mẫu mực trong việc thực hiện dân chủ. Mọi cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ, đảng viên có chức vụ cao đều phải sống và làm việc theo pháp luật như mọi công dân bình thường, không có ngoại lệ”.

Những đóng góp sáng tạo về lý luận, thực tiễn trong chỉ đạo xây dựng CNXH theo đường lối đổi mới của Đảng là cống hiến hết sức to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh đối với Đảng và dân tộc ta. Đảng ta khẳng định:”Chúng ta phải luôn ghi nhớ những bài học quý báu về lãnh đạo và chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh- giữ vững nguyên tắc trong quan điểm, đồng thời linh hoạt trong chính sách, luôn luôn gắn bó với thực tiễn đất nước, đồng cảm với đồng bào, chiến sĩ”.

Giữa những khúc quanh nghiệt ngã của lịch sử

Nhắc lại những khó khăn, phức tạp của thời khủng hoảng và đưa đất nước vượt qua những thử thách hiểm nghèo trong những năm đầu đổi mới, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

GS.TS Hoàng Chí Bảo (Hội đồng Lý luận Trung ương) nhận xét: Giữa những khúc quanh nghiệt ngã đó của lịch sử, trên cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh – Tổng Bí thư đầu tiên của thời kỳ đổi mới đã đứng mũi chịu sào, cùng với tập thể lãnh đạo Trung ương sáng suốt và bình tĩnh, mưu lược và dũng cảm, dày dạn kinh nghiệm và nêu cao bản lĩnh chính trị, đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng, thực hiện Nghị quyết lịch sử của Đại hội VI, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phu nhân - bà Ngô Thị Huệ
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phu nhân – bà Ngô Thị Huệ

 

Theo GS Hoàng Chí Bảo, đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là to lớn, mãi mãi còn có giá trị và ý nghĩa lâu dài, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, là người đề xướng và tổ chức thực hiện những thử nghiệm cải cách cơ chế, chính sách quản lý kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khi giữ trọng trách Bí thư Thành ủy; đề xuất với Tổng Bí thư Trường Chinh và lãnh đạo Trung ương tổ chức khảo sát thực tiễn, tổng kết từ những sáng kiến, những cách làm hay ở địa phương và cơ sở để tìm ra đột phá và hình thành đường lối đổi mới ở Đại hội VI.

Thứ hai, tham gia cùng tập thể Bộ Chính trị sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện dự thảo Báo cáo Chính trị trên tinh thần, quan điểm đổi mới dẫn đến quyết sách đổi mới có tầm vóc lịch sử ở Đại hội VI. Một ấn tượng khó quên đối với câu nói nổi tiếng của đồng chí Nguyễn Văn Linh “hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”. Trước khi là Tổng Bí thư, tháng 6 năm 1983, đồng chí đã từng nói với các cán bộ lãnh đạo và anh chị em công nhân nhà máy dệt Phước Long như vậy. Sau này, khi đã là Tổng Bí thư, đồng chí cũng nói như vậy với anh chị em trí thức, văn nghệ sỹ và các nhà hoạt động văn hóa ngày 6, 7/10/1987.

Đó là thể hiện tính chủ động, sáng tạo, phải vượt lên hoàn cảnh, có tác dụng cổ vũ, khích lệ tư tưởng đổi mới, hành động đổi mới rất to lớn. Nhớ lại, lúc đổi mới còn đang ấp ủ, manh nha, cái mới như một mầm non mới nhú, tại hội nghị Đà Lạt, Tổng Bí thư Trường Chinh, khi đánh giá cao những nhân tố mới từ thực tiễn miền Nam và ở thành phố Hồ Chí Minh đã bày tỏ niềm hy vọng: “Trong sa mạc đã có chòm cây xanh”, đã khẳng định đổi mới là vô cùng cần thiết và bức xúc.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã không chỉ một lần nhấn mạnh, đổi mới là cơ may ngàn vàng, là cơ hội lớn để phát triển, quyết không thể bỏ lỡ.

Thứ ba, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là người sớm nhận rõ vai trò của lý luận trong đổi mới, nói đổi mới tư duy, điều căn bản là đổi mới tư duy lý luận; cũng là người đã hình dung rất rõ ràng những nội dung và yêu cầu của đổi mới – đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp và phong cách cùng với đổi mới tổ chức bộ máy, thể chế, cơ chế, chính sách và cán bộ.

Thứ tư, ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Nguyễn Văn Linh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về mọi mặt, thấy rõ vấn đề cốt yếu của xây dựng Đảng là phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VI), đồng chí nhấn mạnh: “Đảng phải nghiêm túc soát xét lại mình với tinh thần phê phán sâu sắc, siết chặt lại đội ngũ, tăng cường tính giai cấp, tính tiền phong để giữ được vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên”. Đặc biệt có giá trị là luận điểm sau đây: “Muốn đổi mới xã hội, trước hết Đảng phải tự đổi mới, phải tiến hành cuộc cách mạng về công tác xây dựng Đảng, vì Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn xã hội”.

Đồng chí đòi hỏi trong Đảng phải phê phán quyết liệt bệnh quan liêu, vô trách nhiệm, thói tham lam, ích kỷ, thèm khát đồng tiền, sống vô nguyên tắc, chỉ biết luồn lọt, nịnh bợ để có danh, có lợi. Đọc lại những lời này vào thời điểm hiện nay, ta vẫn thấy lời cảnh báo sâu sắc của Tổng Bí thư đầu tiên của đổi mới vẫn còn nguyên tính thời sự.

Thứ năm, giữ vững phương hướng chính trị, bảo đảm tôn trọng nguyên tắc; không phạm sai lầm về quan điểm, nguyên tắc là điều tối hệ trọng đối với sinh mệnh của Đảng cách mạng cầm quyền. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã quan tâm đặc biệt tới yêu cầu đó với sự sáng suốt chính trị cần thiết, hành động kịp thời để Đảng không chệch hướng, đổi mới không chệch hướng ở thời điểm bước ngoặt.

Thứ sáu, trong nhiệm kỳ Đại hội VI, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã sớm xác định “dân là gốc”, là người có công đầu trong xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ có nguyên tắc, có lãnh đạo, thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; xác định rõ vai trò chủ thể của dân, nhấn mạnh “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, coi dân chủ là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới và phát triển. “Để dân chủ trở thành lực đẩy sự nghiệp cách mạng phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện đúng đắn dân là gốc, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Phát biểu này của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Trung ương 7, khóa VI (8/1989), gần 10 năm sau đã trở thành nội dung cốt lõi của quy chế dân chủ ở cơ sở và sau đó là Pháp lệnh dân chủ cơ sở (1998, 2007).

Thứ bảy, một dấu ấn đặc biệt không chỉ nói lên đường hướng của tư duy và tư tưởng, tầm chiến lược của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mà còn thể hiện đậm nét phong cách hành động, nói đi đôi với làm, dân chủ, công khai minh bạch, quyết tâm đổi mới, ra sức cổ vũ, khẳng định cái mới, bảo vệ cái mới, phê phán gay gắt, quyết liệt những tiêu cực, tệ nạn, suy thoái và tha hóa trong Đảng, khi vạch ra “Những việc cần làm ngay”, phê phán “sự im lặng đáng sợ”.

Thứ tám, một nét đẹp trong văn hóa nhân cách của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh là sự ứng xử chân thành và tinh tế dành cho trí thức và văn nghệ sỹ. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng trong nhiệm kỳ đầu của đổi mới, đồng chí luôn tỏ rõ tấm lòng quý mến, trân trọng đối với trí thức, văn nghệ sỹ – những người lao động trí óc sáng tạo, sản xuất ra các giá trị tinh thần.

Trần Quỹ (tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *